You are not logged in
Log in
Sign up
Welcome
Chúng ta là con cháu họ Hoàng Kẻ Trổ có lịch sử ghi chép tới nay đã hơn 600 năm, là giòng họ lâu đời ở Nghệ Tĩnh. Cũng như nhiều giòng họ khác do biến cố xã hội, chiến tranh, thiên tai nên không giữ gìn nổi gia phả của giòng họ. Ông Hoàng Xuân Hãn trong nhiều năm đã sưu tầm, hệ thống hóa, ghi lại gia phả họ Hoàng Kẻ Trổ gửi tặng con cháu (1992).

Thiết nghĩ, cuộc đời như giấc mộng ba sinh, sự vinh nhục, mất còn của 1 giòng họ cũng chỉ như một cái chớp mắt trong cõi mênh mông của thiên đạo xoay vần. Lại tới đây thế giới đại đồng, dung nạp cả người trong bốn bể, nếu chỉ bo bo lưu gia phả ở trong tủ sách cho bụi phủ thì không phải là kế hay. Chúng tôi trộm nghĩ nếu đưa gia phả lên Internet, để thêm mầm thêm lá, cây nối với cây thành rừng, hòa vào dòng chẩy của nhân loại - được như thế thì dù cho các thế hệ sau có phiêu bạt nơi chân mây góc bể, hòa chung dòng máu với đồng loại trên bốn biển năm châu, thì cũng vẫn có cơ hội tìm đến với nhau trong muôn một.

Để tỏ lòng tri ngộ với tiền nhân, chúng tôi lập ra trang Web này gọi là một chút để đàn con cháu hiểu lòng nhau*.

 

* mượn chữ của cụ Hoàng Xuân Phong (1858)

Nghìn thủa giãi cùng ai, người hiểu lòng ta người chẳng hiểu

Ba sinh dồn giấc mộng, còn làm sao được mất làm sao

(Thiên tải hướng kỹ lân, tri ngã giả bất tri ngã giả

Tam sinh hồn nhược mộng, như tri hà, mạt như chi hà)


Go to family tree

Go to family photos
Family news
Nov 04, 2009
Xuan Ty Hoang commented on the photo Gia đình và thầy cô trường HX. Hãn, Đức Thọ, hè 2005:
 Gia đình và các thầy cô trường H.X HÃN, (Thị trấn Đức Thọ) mùa hè năm 2005 
Nov 03, 2009
Xuan Ty Hoang commented on the photo Hoang Yen Ho - 3.5 tuoi:
 Yen Ho = Cu Moc 
Xuan Ty Hoang tagged <Private> in a photo
Xuan Ty Hoang updated the details of Unknown Hoang and <Private> Hoang in family tree hoang Family Tree
Xuan Ty Hoang added Unknown Hoang and <Private> Hoang to family tree: hoang Family Tree
July 05, 2009
viet anh hoang added <Private> Do , <Private> , <Private> Do , <Private> Stock and 2 other people to family tree: hoang Family Tree
viet anh hoang updated the details of <Private> Do , <Private> Do , <Private> , <Private> Nguyen and 12 other people in family tree hoang Family Tree
Mar 14, 2009
viet anh hoang updated the details of Dung Nguyen Thi , Hai Khoat Nguyen , Xuan Hong Hoang , <Private> Pham and 5 other people in family tree hoang Family Tree
viet anh hoang added <Private> Pham , <Private> Pham , <Private> , <Private> Hoang Xuan and 4 other people to family tree: hoang Family Tree
Aug 15, 2008
viet anh hoang added 67 photos to album foto ve que Sep.05
View more
 
Play slideshow
 
July 20, 2008
viet anh hoang posted a news article: Nghìn thủa
June 17, 2008
viet anh hoang updated the details of <Private> Hoang , <Private> , <Private> Pham and <Private> Pham in family tree hoang Family Tree
viet anh hoang added <Private> Hoang , <Private> , <Private> , <Private> Pham and 1 other people to family tree: hoang Family Tree
June 02, 2008
Thanh Huong Pham joined the site.
viet anh hoang updated the details of <Private> , <Private> , <Private> Cao , <Private> Nguyen and 37 other people in family tree hoang Family Tree
viet anh hoang added <Private> , <Private> , <Private> , <Private> Nguyen and 49 other people to family tree: hoang Family Tree
News articles
Family memories:Nghìn thủa
Posted by: viet anh hoang on July 20 2008 03:41

Hoàng Xuân Phong (1858)

Thiên tải hướng kỹ lân, tri ngã giả, bất tri ngã giả

Tam sinh hồn nhược mộng, như chi hà, mạt như chi hà

Hoàng Xuân Hãn dịch:

Nghìn thủa giãi cùng ai, người hiểu lòng ta, người chẳng hiểu

Ba sinh dồn giấc mộng, còn làm sao được, hết làm sao

0 Comments|11 Views|View full article
Family memories:Bèo Dạt - Về nước
Posted by: viet anh hoang on June 3 2008 09:33

Về nước

Hành quân gần một tháng vượt cầu Thanh Thuỷ lại gặp cái bảng bên đường: Hoan hô học sinh khoá 7 về nước- qua bên kia bảng lại nhìn thấy vẫn khẩu hiệu: Chúc anh em khoá 8 học tập tốt.
Cái cầu này đã đưa được ba khóa học Lục quân sang bạn học, chúng tôi về có thể là con số vạn học sinh đã được đào tạo về. Ngồi rỗi tôi nghĩ riêng lớp tôi có 110 người thông thường về làm việc ở đài cấp trung đoàn trở lên, tính nhẩm ít ra nay ta cũng có hàng 100 trung đoàn, bạn giúp đỡ các binh chủng bộ, thông, công pháo, chắc về còn kịp tham gia phản công, cán bộ ta đã học tập chính quy chiến đấu hợp đầu binh chủng thì thông tin V.T.Đ là mạch máu của chiến trường.
Hai năm trời được bà chị viện trợ sang gạo và quần áo nên về nước thấy anh em đỡ xanh xao vàng vọt mà mừng, còn riêng chúng tôi thì anh em nào cũng một ba lô nặng chĩu, không đủ sức vác, chứ riêng quần áo Kaki mang kiểu Việt mỗi người được hai bộ, còn giầy tất khăn, sổ tay ai cũng có, quần áo thì cũng tùy sức ai mang được bao nhiêu cứ mang, chúng tôi một năm phát 2 bộ quần áo Kaki, cứ ngồi trên ghế trong lớp sao rách mục được, có anh khéo giữ còn một bộ mới toanh giầy cũng vậy, hai năm đi chưa rách một đôi về bỏ lại ai cũng tiếc nên cố mang, với ý là có quà cho bố cho em.
Lúc đó cái đầu nhẹ tênh vô tư, thì cái vai nặng chĩu mà không tiếng kêu ca.
Mỗi ba lô chúng tôi mở bày ra thì bằng gánh hàng xén chợ tỉnh thời bấy giờ, nào là 3 cái bàn chải, dăm cái mùi xoa, dăm ba cái lược nhựa, bút máy, dao, cắt móng tay, thấy hàng Trung Quốc quá rẻ lại đẹp anh nào cũng ước qua nhà làm quà cho em.
Biết rằng về Cục sẽ phân công đi khắp các chiến trường, nên anh nào cũng ước được phân công hướng nào có qua nhà, qua quê gặp người thân lúc này.
Vì có ước mong, nên anh em nào cũng dò la tin tức ai đi đâu về đâu, có thoả ước mong không, hoặc gửi thư quà nếu hướng bạn đi có thể qua nhà.
Cục thông tin đón chúng tôi về ở một địa điểm ở Thái Nguyên để trau dồi thêm lập trường tư tưởng trước lúc về đơn vị công tác, cái gọi là: Chỉnh huấn cải cách ruộng đất”, lớp tôi đa số chưa dự chỉnh huấn: “ Cải cách ở Trung Quốc vì sang quá muộn, còn lớp khoá 7 đi cùng tôi và Hùng sang trước, đã được học rồi, có được Cục phân công về đài 101, là đài VTĐ của Bộ tổng tham mưu làm việc, thay cho anh em, cử đi chỉnh huấn cải cách ruộng đất.
Xưa đi công tác đâu, rất bí mật không được cho bạn bè biết, sợ hỏi tin nhau dễ lộ bí mật công tác, chúng tôi lên gặp Cục về rồi thẳng đài Bộ 101 không chào hỏi chia tay, cả lớp không biết chúng tôi đi đâu.
Ước vọng qua nhà tan vỡ, quà cáp cho ai.Vì biết lính Đại Thọ ở ATK (an toàn khu) rất khó vào và cũng khó ra, vì bí mật đầu não.
Điều ước không đạt, đành tìm cách tự an ủi, phân công đi thì trăm ngả, ngả về quê chỉ có một, tôi tự an ủi là được về đài quan trọng nhất, có kỹ thuật cao nhất, được bảo vệ an toàn nhất, được thực sự công tác đóng góp công sức cho kháng chiến, đã ba tuổi quân mà chỉ mài mòn đít quần, ở các trường nay mới thực sự .
Háo hức được thử sức, thử tài với thực tế, với toàn quân, vì toàn quân đều liên lạc với đài 101 đài Bộ.
Cái vai vẫn nặng mà cái đầu đã nhẹ nhõm, an phận lính “Đại thọ” chỉ ẩn kín không lộ mặt, không hành quân, chúng tôi ở sâu trong rừng Thái Nguyên, ba bốn lần gác từ xa, đến gần ai ra khỏi vùng phải có thẻ cho phép , mọi cung cấp hậu cần đã có người lo, nên lính mà sống như công chức, theo ca, kíp mà lên máy làm viêc. Khác với lúc ở trường, chúng tôi làm việc theo mạng và ca kíp, tiểu đội, trung đội chỉ là sinh hoạt chính trị ngoài giờ. Sự luân phiên về mạng, về máy phụ thuộc công việc nhiều ít. Cá nhân tự do, tự biết, tự giác, vì chỉ hai người làm việc tay đôi cách nhau hàng trăm ngàn cây số, không ai hề hay biết.
Đặc biệt đài 101 là lính, mà có cả sơ sinh và các cặp vợ chồng chung sống, gần chúng tôi là đơn vị Cơ yếu mật mã, đây cũng giống chúng tôi là lính “Đại thọ” và có nhiều nữ giới.
Vì vậy vùng chúng tôi ở, được lính ATK gọi là vườn hoa Thủ đô.
Tôi về đây cảm thấy ấm cúng cảnh gia đình hơn, tôi được phân công về mạng XQF viết bí danh tức liên lạc với chiến trường khu ở Nam Bộ, Lào, và Campuchia, là mạng làm việc xa nhất, tín hiệu yếu nhất, cán bộ tự tạo ở địa phương chưa thống nhất được quy ước nên khó liên lạc nhất.
Mạng XQF do bố Thanh già phụ trách, ông là một Đài trưởng thời Pháp theo Cách mạng, có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và cuộc sống. Người thứ hai là: “Mẹ Nga- một phụ nữ Hà Nội gốc, giác ngộ Cách mạng sớm được cử học lớp vô tuyến đầu tiên của Việt Nam dân chủ Cộng hoà, chị là vợ của Nguyễn Diệp đội trưởng đội Tiền phương và là đội phó 101, sau này là Thiếu tướng tư lệnh trưởng binh chủng thông tin. Chị đã có 1 cháu trai lúc tôi về 101, cháu mới chẵn năm. Anh chị có một lán con bằng tre nứa, khoảng 15m2 ở riêng một mé đồi. Ở chiến khu không chợ búa tăng gia gì, chỉ tiêu chuẩn trên cấp mà dành dụm nuôi con, thân còm lá xác ve, đôi mắt to ra vì chồng luôn đi chiến dịch vắng nhà, chị vẫn phải đảm nhiệm một ca 8 tiếng. Một vai chị gánh việc nước, việc nhà, và nuôi con nữa. Thân con gái dặm trường, không biết bố mẹ anh em ở Hà Nội có hiểu cảnh ra kháng chiến là thế không?”
Người thứ ba là anh Tường học lớp báo vụ mới ra công tác hơn năm, anh tính trầm lặng ít nói, khoẻ mạnh tốt bụng. Tôi là người thứ tư được về thực tập ở mạng XQF.
Buổi đầu vào nghề đâu ít khó khăn bỡ ngỡ, dù tôi đã được học hai lần rất kỹ càng ở lớp, vào thực tế khác hẳn, vì tâm lý lúc học thì nhận sai chỉ bị lỗi trừ điểm, còn làm việc ở mạng Trung ương này sai chỉ là ảnh hưởng tới cả vùng cả nước, nên trách nhiệm làm ức chế tâm lý tập trung thu tin. Lúc học thì tín hiệu rõ ràng mà nghe còn nhầm, nay tín hiệu bị ảnh hưởng của sấm sét,.. nhiễu của các đài bạn và tầng điện ly thiên nhiên, các buổi đầu lên máy tôi hồi hộp lắm. May mắn cho tôi được bố già Thanh và anh chị cho theo ca nghe thu tay đôi cho quen cách làm của mạng, tôi thu thử vài hôm và đối chiếu xem có sai sót nhiều không?
May mắn lúc học chúng tôi đã quen nên chỉ ba ngày tôi đã được cho đi ca độc lập vì cháu Bình con chị Nga sốt.
Ca 8 tiếng làm việc độc lập đầu tiên tôi đã được trực tiếp thu phát với các đài Khu 5, Nam Bộ, Lào.
Lúc đầu hơi là lạ bỡ ngỡ vì tác phong và xưng hô có chỗ chưa quen, với tập chung tư tưởng cao độ, và quyết tâm hoàn thành từ phút đầu, sau buổi làm tôi hỏi bên cơ yếu mật mã có sai sót gì không? Câu trả lời: “Very good” làm tôi sướng dơn lên. Đầu xuôi đuôi lọt, thêm tôi nên chị Nga có điều kiện săn sóc con hơn. Mỗi lúc tan ca tôi lại chạy ra lán chị Nga trông hộ cháu cho chị đi tắm rửa, giặt dũ. Thấy tôi chị nở nụ cười rạng rỡ hỏi to: có nhiều việc không? Có trôi chảy hết điện không? Tôi cũng sung sướng nói to: Xong hết không trả bức nào?
Tôi cũng sung sướng hớn hở, sau 8 tiếng hai tai đeo ống nghe, tay đánh ma níp hoặc viết liên tục, lúc bỏ tai nghe ra như vừa tỉnh giấc ngủ say dậy. Nhẹ nhõm, sảng khoái, lại có người hỏi han động viên nữa còn gì bằng. Tôi lại bế cháu Bình đi các lán chơi.
Đơn vị tôi lúc nào cũng 1/3 làm việc, 1/3 nghỉ ngơi, 1/3 ngủ vì làm 3 ca liên tục. Lúc nào cũng có bạn để trò chuyện lai rai.
Sau một tuần thực tập tôi được vào ca chính thức. Vậy mạng tôi có 4 người làm 3 ca nên mỗi ngày có một người được nghỉ.
Lúc đã quen việc, tôi lai rai sang các mạng khác tìm hiểu học tập, trong đội đa số tôi chưa quen đặc biệt số nữ tôi quen gần hết vì các cô này cùng học thu với tôi, lúc học lớp cán sự Vô tuyến gồm có: cô Liên, Lan, Lộc, Phúc, Tuyết,... các cô đã về 101 hơn một năm rồi, nên làm vững vàng và còn xung phong đi chiến dịch nữa, là nữ ở chiến khu ATK đã gian khổ khó khăn còn ở chiến dịch thì còn gian khổ gấp bội, nhưng lúc này ai cũng háo hức được đi chiến dịch, được đi tức được trên tin tưởng uỷ thác, ở Chiến trường là độc lập tác chiến ai qua được vài chiến dịch xem như đã là cán bộ V.T.Đ trưởng thành.
Tuy ở trong rừng sâu ở đây phong trào thi đua công tác và văn nghệ bích báo rất sôi nổi và thường xuyên. Anh Dương Quang Hưng là đội trưởng nhưng anh là cán bộ Chính trị luôn đi sâu sát động viên anh em thi đua và động viên văn nghệ. Đội có đội văn nghệ nổi tiếng ở bộ tham mưu. Vì đây có đông nữ thích ca hát, nhảy múa, kịch cọc đủ món, cứ tới các buổi lễ là đội văn nghệ được đi giao lưu với cơ quan bạn, nên ai được đi là phấn khởi, vì hàng ngày cấm đi qua cơ quan khác nếu không có giấy phép là cảnh vệ tóm ngay.
Tôi chả hát múa gì, lại có cách giao lưu khác tôi mới ở Côn Minh khoẻ, nặng 60 kg có thừa, nên ngày nghỉ là cùng anh quản lý đi chợ, đi các bản mua rau củ, gà, vịt cho nhà bếp, có đi mới biết phong tục của từng dân tộc Việt Bắc, cái tôi thích nhất là lên nương trồng đu đủ của người dân tộc, thì tha hồ ăn qủa chín mềm, vì họ bảo quả chín ăn bị ốm, không tốt. Chúng tôi thì chọn quả chín mềm chén no không phải trả tiền. Dân họ trồng đu đủ cho lợn ăn là chính.
Có đi mua thực phẩm tôi mới học được cách phân biệt măng nào là măng đắng, măng nào là măng ngọt, măng nào là măng nứa, măng giang, phân biệt bằng mắt và nếm nhai thử nước măng. Loại nào luộc, loại nào xào, loại nào muối chua, người Tày họ cũng có văn hoá ẩm thực riêng của họ.
Lần đầu tiên tôi được ăn bánh Trứng Kiến của họ. Cả năm họ chỉ lấy Trứng Kiến một lần, làm bánh ngày lễ dân tộc của họ.
Loại Kiến Vàng to con làm tổ bằng cách uốn lá lại thành phễu to rồi làm tổ treo lơ lửng trên cây. Họ chặt xuống lấy nong hứng tổ rồi đập vỡ tung tổ ra, trứng rơi ra tua tủa như hạt gạo. Họ lấy lá xua Kiến ra và gằn lấy trứng. Họ trộn đậu xanh đã đồ xát nhỏ cùng hành mỡ và Trứng Kiến lẫn nhau làm nhân, lấy bột gạo nặn bánh tròn gói lá chuối, cho vào chảo hấp chín mùi thơm phức, ăn vừa bùi, béo rất ngon, phong tục họ chỉ ăn một ngày trong năm mà thôi.
Có lần tôi và Vũ Hùng được phân công đi lấy củi, hai anh em vào rừng lang thang tìm củi. Vì gần nhà anh em lấy nhiều, khó tìm nên phải đi xa, bất ngờ gặp cây Vải rừng quả chín mọng, hai anh em bảo nhau số đỏ, Vải ở đây mà không ai biết, hai anh em trèo lên chặt hai cành hái lấy quả, buộc thành hai bó to mong đưa về cho anh em, chắc các cô gái thích lắm, chưa về ngay mà còn phải tìm củi, hai anh em đang lúi húi tìm củi khô thì 3 du kích vác súng kíp chĩa vào bảo dơ tay lên, chúng tôi to mắt nhìn và ngớ người ra, rồi phải dơ tay lên, thế là hai anh em bị trói hai tay dẫn về Uỷ ban bản, cùng hai chùm Vải, về tới nơi ông cán bộ hỏi chúng tôi ở đơn vị nào? Sao lại chặt Vải của dân?
Lúc này mới biết bị bắt vì tội lấy Vải của dân, tôi khai đơn vị và nơi đóng quân, ông chủ bản thấy đúng và nói thấy Vải rừng xin mấy cành về cho anh chị em ở cơ quan thèm hoa quả chua lắm.
Ông hỏi tiếp: Các anh mới về đây à!
Chúng tôi thưa: Vâng mới bổ sung về ạ. Ông cười và nói: Lần đầu chưa biết luật rừng thì tha, chứ cây quả rừng thấy gốc đã có nhát dao chặt vào là của riêng người phát hiện lần đầu, ai tới sau là không được xâm phạm.
Vậy ở rừng phải biệt luật rừng, không thì mắc vạ.
Tôi và Hùng được một bài hú vía, và được bài học nhớ đời.
Hai anh em được về với hai chùm Vải và hai bó củi, cả đội lại vang chuyện lấy Vải bị bắt. Cũng là bài học chung cho cả đội.
Tôi về sau lên tự làm lấy một cái giường bằng tre nứa ở lán tiểu đội hai trung đội ba. Lán ở dưới một rừng nứa già che kín không lọt ánh nắng để tránh máy bay, giường tôi ở sâu nhất, nơi tối nhất, nhiều muỗi nhất, nhưng cũng yên tĩnh nhất, giờ nghỉ mắc màn ngủ bù cả ngày được. Từ ngày về tôi chưa mở gói hàng định đưa về làm quà cho bố mẹ và các em lần nào, là ba lô gói kiểu bát lộ quân, tôi chia làm hai gói, thường dùng riêng một gói và quà riêng một gói , tôi nhớ rõ cái đôi giầy cho bố, cái khăn nhung cho mẹ, quần áo, bút, dao , gương, sổ tay cho các em,.... Trong cảnh anh em xung quanh còn thiếu thốn nên gói kín là tốt nhất, ít ai tò mò tìm hiểu gói gì to thế. Lúc này chúng tôi ở Trung Quốc về là giàu sang nhất đơn vị và cũng béo tốt nhất đơn vị. Ai cũng ước được như chúng tôi. Có anh em cùng học lớp cán sự V.T.Đ cùng tôi, lúc gặp đã tâm sự: Các cậu phá rào chạy mà thoát, chúng tớ ở lại kéo nhau lên Cao Bằng học báo vụ khổ ơi là khổ, nay thì xơ xác mà vẫn chả được đề bạt gì, cậu đi vẫn giữ được cái trung đội phó thời cán sự là số đỏ đó.
Ăn nhau cái số thôi cậu ạ. Tớ cũng liều mà thôi ai ngờ vớ được cái cọc.
Tuy ở xa nhưng tôi cũng nghe tin anh em C19 Trung Quốc về cùng anh em 101 học chính sách cải cách căng thẳng lắm, nhiều anh bị ra khỏi nghề, có anh không chịu nổi đã tự tử như cậu Thanh,vv....
Tôi tự an ủi, mình học bên kia rồi nên các ông tha cho là phúc lắm.
Số anh em ở lại công tác sẽ học lớp sau nên chưa ai rõ học chỉnh huấn: Cải cách ruộng đất là cái gì?
Còn tôi cũng chả tâm sự vấn đề đó với ai thêm phức tạp, chỉ tập chung luyện tay nghề thật tốt. Lên máy là giải hết điện tháng đầu thực tập tôi đã được đội biểu dương về thành tích, công tác trên mạng tốt, và tham gia lao động tốt.
Mạng tôi ít đối tượng, nhưng ở xa và việc rất nhiều, vì chỉ có liên lạc độc nhất phương tiện VTĐ, mạng tôi làm đêm là chính, vì đêm khuya nên các đài bạn nghỉ hết đài tôi mới nghe rõ đài bạn để thu tin. Tín hiệu lúc tỏ lúc mờ, có lúc phải vặn núm đuổi theo tín hiệu mới thu đủ được. Đêm đông Việt Bắc lạnh lắm. Nhà tre vách nứa mưa dầm gió bắc, ngồi liền vài ba tiếng nhận tin, ê ẩm cả đôi chân, chúng tôi phải làm việc trong một cái màn lớn rũ tận đất để tránh muỗi rừng, nếu không đêm tối chỉ cần vài ba anh làm việc, muỗi no xơi tái phá rồi không ngồi làm nổi.
Qua đây mới biết lính chữ “Thọ” cũng có nỗi gian khổ của nó.

CHIẾN DỊCH
1952 năm chuẩn bị cho nhiều chiến dịch Hà Nam Ninh, Thượng Lào, Hoà Bình, thọc sâu phá rối Hà Nội, Hải Phòng, Cục thông tin lo bổ sung cán bộ VTĐ cho các chiến trường rất cấp bách đồng bộ, với số lượng đông.
Đa số cán bộ của Cục đang tập trung chỉnh huấn, thời đó lớp tập huấn chỉnh quân chính trị của lính nhà một liều tăng lực cực nhanh tăng sức chiến đấu cho đơn vị. Thường được đi học là có sự điều động và hoán đổi theo yêu cầu từng chiến dịch.
Tôi mới về đơn vị 101 nơi khó vào và cũng khó ra, tâm tưởng là ôm lính chữ “Thọ” lâu dài.
Là chiến dịch thường bất ngờ, một sáng đầu đông 1952 tôi được gọi lên gặp chính trị viên đội 101 để nhận nhiệm vụ mới, được lệnh là đi ngay, không chia tay ai cả, bí mật lấy ba lô cầm giấy lên cục nhận nhiệm vụ mới. Lên tới quân lực cục, tôi gặp Phù, Sản, Tuân cùng học với tôi ở Trung Quốc về. Bốn anh em cùng quê Nghệ Tĩnh, quân lực đưa giấy giới thiệu 4 chúng tôi vào sư đoàn 335 của Bình Trị Thiên.
Bốn anh em cùng phấn khởi, vì thoả ước mong qua nhà để nhẹ bớt cái ba lô, và gặp gia đình trước lúc ra trận.
Chúng tôi cấp tốc hành quân để sớm về nhà và ở nhà lâu hơn.
Ngờ đâu vừa đi khoảng chục cây số, thì có liên lạc đuổi theo gọi chúng tôi vào một trạm dọc đường và giao lệnh mới của cục, là 4 chúng tôi không về 335 nữa mà cấp tốc nhận lệnh mới vào quân khu 3 đóng ở Thái Bình.
Cả bốn anh em sững người, nghẹn thở, anh cán bộ quân lực ngọt ngào hỏi:
- Các đồng chí có thắc mắc gì không? Im lặng mấy phút sau tôi nói:
- Công tác thì không thắc mắc, chỉ lo là cả 4 chúng tôi nói tiếng Nghệ vào địch hậu dễ lộ bí mật, khó tránh lắm.
Anh cán bộ hóm hỉnh nói:
Cử cán bộ vào địch hậu, trên chọn lựa kỹ tiêu chuẩn, vinh dự cho các đồng chí mới được chọn, còn việc nói thì yêu cầu các đồng chí nói bằng tay là chính, hạn chế tối đa nói bằng mồm, số một là bí mật đó.
Bốn chúng tôi im lặng rồi: “Vâng” .
Đồng chí cán bộ dặn dò thêm vài điều cần giữ gìn ở hậu địch và vẽ sơ đồ liên lạc ở các địa điểm cần tới.
Sau cái bắt tay thân mật của anh cán bộ quân lực tôi cảm thấy khang khác lần chia tay trước, ấm cúng hơn, còn gặp nhau nữa hay không?
Cuộc chia tay rối bời, đảo lộn kế hoạch bốn anh em đã bàn vào nhà ai trước, ở mấy ngày, tập trung nhà ai cùng vào đơn vị,vv... nay thì quay ngược 180 độ, nay mỗi người một suy tư, cảnh trò chuyện ríu rít đã không còn, cái đầu nặng về suy tư làm cái vai càng trĩu xuống.
Dọc đường gặp các đoàn đi ra hoặc đi vào chúng tôi đều hỏi thăm có ai người Nghệ Tĩnh không? Gần 3 năm chưa được tin tức của quê nhà, của gia đình sốt ruột lắm, và có ai gần quê thì cố gửi thư và quà về cho gia đình, bõ công thồ gần ngàn cây số về đây, cho biết là mình đã vào hậu địch.
Chúng tôi đi lúc chiến dịch Hà Nam Ninh đã bắt đầu, sư 320 đã thọc sâu vào Thái Bình, sư 326 đã thọc sâu vào Bắc Ninh, Hải Dương, các trung đoàn 42 và 50 đã ở sâu trong lòng địch, chia cắt địch ra từng mảnh, địch co cúm lại ở các bốt, lâu lâu có viện binh mới ra khỏi đồn đi càn, du kích ta trưởng thành mạnh và nhanh . Tề co cúm lại bỏ chạy vào bốt địch.
Chúng tôi hành quân cấp tốc về Phú Thọ rồi qua Hoà Bình theo đường quốc lộ 12 về gần Phủ Lý rẽ sang đường quốc lộ 59 về Chinê (Lạc Thuỷ). Đây là nơi đóng quân của trạm liên lạc của Quân khu III.
Trên đường đi gặp nhiều đoàn quân ta hành quân cả đại đội vũ khí đầy đủ đi giữa ban ngày, khí thế dũng mãnh, sức khỏe đủ hơn xưa, quân đi ra càng đông mà đi vào cũng đông, bốn anh em tôi thui thủi cắm cổ đi mong nhanh tới trạm đón tiếp.
Trên đầu mấy chiếc bà già Đa-Cô-Ta bay ì, ì, chúng bắc loa to bay sát ngọn cây, rêu rao tin chiến thắng ở Hoà Bình và Ninh Bình, chúng nói đã tiêu diệt gọn sư 320 kêu gọi lính tướng Giáp nhanh chóng hồi chánh sẽ được ân xá trọng thưởng.
Loa to nhưng chả ai tin, vì chúng tôi gặp rất đông vợ bộ đội từ Thái Bính, Hưng Yên ra vùng tự do thăm chồng kể chuyện địch hậu rất sáng sủa chúng tôi rất mừng.
Về tới Chi nê tìm vào trạm chờ dịp tổ chức vào hậu địch.
Trạm trưởng phổ biến tình hình vùng du kích cho chúng tôi nghe, chủ yếu quân ta vẫn ở bí mật, nay có vùng ngày đêm đều do địch giữ, có vùng ngày tề nguỵ, tối là du kích ta hoạt động, tề chịu về bốt ẩn.
Các trung đoàn cơ động địch thường xuyên càn quét vẫn không bắt được ta vì được dân bảo vệ dấu chốn.
Vấn đề gây cấn nhất là phải cải trang như nông dân địa phương. Mặc quần áo bà ba nâu, chân đi đất. Vậy cái ba lô to tướng của chúng tôi, chứa bao kỷ niệm ân tình và mồ hôi nữa giải quyết ra sao đây.
Bốn chúng tôi chỉ nhìn nhau không nói lên lời. Cái gì đến khắc phải đến.
Chúng tôi mở ba lô, xem kỹ lại và hoài niệm từng thứ một, và phải dứt khoát để lại vùng tự do tất cả, đổi vài thứ lấy gà bồi dưỡng, chọn mấy thứ bé gọn nhất như ảnh, mùi xoa, đồng hồ, bút máy gói riêng vào túi nhỏ lúc bị vây bắt thì vất đi, vào lán các anh em hậu địch ra tìm đổi quần áo, mỗi chúng tôi chỉ đổi lấy 2 bộ quần áo bà ba đen hoặc nâu, mấy cái quần đùi mặc lót và một vuông vải đen gói quần áo làm tay nải, cái quý nhất lúc đó là tìm đổi được tấm ni lông màu cánh dán, hồi đó còn rất hiếm ai cũng cần và quý.
Tấm ni lông che lúc mưa, làm chiếu, làm chăn lúc ngủ, và quý nhất là làm phao bơi lúc vượt sông, dùng tấm ni lông bọc lấy gói quần áo, lấy dây buộc chặt kín cái góc lại thành cái phao vượt sông tuyệt vời. Vùng khu 3 này sông rộng và chằng chịt nên ai cũng cần có phao bơi.
Chiếc ba lô dần dà đã tẩu tán hết, trang phục nay đã đúng bộ nông dân, tuy vậy đoàn trưởng vẫn chưa cho đi, vì chúng tôi đi chân đất chưa quen đá dăm đau cứ phải kênh chân đi không vững, phần nửa da chúng tôi còn quá trắng vì là lính chữ “Thọ” về, phải dầm sương giãi gió cho da xạm đi cho giống mới được vào đoàn đi. Bốn chúng tôi chăm mặc quần lót ra sông tắm để ôn lại môn bơi và phơi da cho xạm lại.
Nằm chờ ở trạm nghe lỏm được nhiều chuyện ở địch hậu. Nào kinh nghiệm chạy địch càn, kinh nghiệm đào hầm bí mật, kinh nghiệm xin ăn, xin ngủ, kinh nghiệm vượt sông, kinh nghiệm vượt bốt. Hơn 1 tuần ở lại mà nghe học được nhiều thứ bổ ích cho sau này.
Nằm chờ đợi sinh ra suy nghĩ vớ vẩn, cả bốn anh em chưa đứa nào ra trận, chưa có tí thực tế kinh nghiệm, càng nghe nhiều người càng tưởng tượng lung tung. Chưa rõ cái hầm bí mật là thế nào? Nếu càn nó bắt được thì khai thế nào để lừa được chúng. Động tác anh nông dân thế nào, anh đi buôn thế nào, trước đâu có chú ý mà biết. Đóng kịch trên sân khấu mấy phút đã khó, nay đóng kịch dài dài biết mấy ngày đây. Nghe nói tây nó cũng khôn lắm khai nông dân nó bắt xoè tay xem có xạm ở bàn tay không? Khai đi buôn nó xem vai có dạn hay không? Có lẽ khai ông giáo tiểu học là hợp với mình nhất nhưng vùng ở có trường hay không? Cách khai sao để hợp lý cái tiếng trọ trẹ xứ Nghệ nữa chứ. Bao câu hỏi, giả thiết đề ra đều bế tắc.
Cuối cùng quyết định tìm mọi cách luồn kín, nhanh, chúng không bắt được là thượng sách.
Chúng tôi nằm ở một xóm bên sông, bên kia sông là vùng ruộng lầy nước ngập bờ mênh mông của tỉnh Hà Nam, phía Nam thị trấn Phủ Lý, vùng này xóm làng thưa nhà ở lẻ trên cái gò cao, đi đâu phải dùng bè thuyền. Mùa ngập nước chỉ làm nghề đánh cá sống qua ngày.
Tối chúng tôi ra bờ sông nhìn về vùng tạm chiến thấy lác đác cách vài cây số có một cụm đèn điện sáng chưng, mươi mười lăm phút lại xuất hiện một vệt sáng từ các đồn bắn lên. Cán bộ cho biết các bốt địch bắn tín hiệu thông tin đó. Vì ngoài pháo hiệu và vô tuyến thì vùng này không còn cách liên lạc gì khác. Tối chúng không dám ra ngoài sợ quân ta phục kích.
Tuy gần tuần lễ ở trạm mà tôi không biết đi ở bến nào? Phương tiện gì? Ngày nào? Giờ nào đi? Chỉ biết luôn sẵn sàng có người tới báo là đi ngay không có hẹn trước, vì bí mật.
Một chiều, ăn cơm tối xong chúng tôi ra bờ sông ngắm sao, và xem pháo lệnh xanh đỏ của các bốt địch bên kia sông, có liên lạc ra báo về chuẩn bị hành quân.
Chúng tôi vội vã về ngay. Mỗi người vội lấy cái nón lá và cái tay nải vải đen gói 2 bộ bà ba đen nhẹ tênh khoác vào vai đi theo chú liên lạc tới chỗ tập chung. Tới một bến sông gặp đoàn có hơn mười lăm người quần nâu áo vải cũ, chả biết ai là bộ đội ai là cán bộ. Tối lờ mờ chả rõ mặt nhau, anh trạm trưởng đã tập hợp chúng tôi phổ biến kế hoạch hành quân và giới thiệu người liên lạc dẫn đường. Một cô gái khoảng mười sáu tuổi thân hình gầy gò nhỏ bé, có đôi mắt to và sáng mặc bộ bà ba nâu bạc, cô bé đứng cao trên thềm nhà nói to:
“ Các chú, các anh phải bám sát tôi, không được để đứt liên lạc. Tối nay ta phải vượt qua quốc lộ 1 sang khu du kích. Nếu rơi lại tức nằm trong tay tề địch. Chúng ta đi không theo đường mà theo đèn của bốt địch. Chuẩn bị ni lông lúc cần bơi được ngay”.
Nghe giọng cô bé lanh lảnh, dõng dạc, tỏ rõ thành thạo lắm, chúng tôi bớt lo. Vì cô còn qúa bé, tôi nghĩ: sao lại giao chúng tôi cho một cô bé thế này? hơi lo.
Thêm vài lời dặn dò của trạm trưởng chúng tôi xuống bốn chiếc thuyền nan vượt qua sông. Tới bờ bên kia nhìn ra cánh đồng đầy nước mênh mông không thấy bờ.
Cô bé chống cái gậy dài trên buộc khăn trắng cho ở xa vẫn trông thấy mà đi theo.
Cô đi nhanh chúng tôi phải rảo bước mới kịp ra cuối làng. Bắt đầu lội ruộng, nước có nơi ngập đầu gối, nơi tớ bẹn, qua mương, rạch, ao có lúc ngập tới ngực.
Áo dính người khó chịu tôi bèn cởi luôn buộc vào thắt lưng đi cho đỡ dính áo. Đi khoảng một giờ đồng hồ, ai cũng toát mồ hôi nên cởi áo tất cả, vừa mát và người dính nứơc, đèn ở bốt có chiếu vào khó phát hiện.
Chúng tôi đi lội trong nước ba bốn tiếng rồi mà chưa đến bờ. Bốt địch đèn vẫn sáng, pháo hiệu vẫn bắn cầm canh. Chúng tôi ngắm giữa hai bên điểm sáng của bốt địch mà đi, vì điểm đó quá tầm nhìn và tầm bắn của địch.
Gần ba giờ sáng thì chúng tôi vượt đường số một, nơi mà địch hay rải quân phục kích, và xe tuần tra vẫn đi tuần bất thường.
Tới điểm nghỉ, để chuẩn bị vượt đường và bắt liên lạc vơi du kích địa phương, tôi mới biết sau chúng tôi còn có một đoàn đàn bà con gái vài ba chục người đi theo chúng tôi, hỏi ra mới biết họ là vợ, mẹ anh em bộ đội ngoài tự do, ra thăm chồng, thăm con đi theo đoàn về Thái Bình.
Thế mới biết gan đàn bà, phụ nữ Việt Nam.
Sau khi điểm lại quân số đầy đủ và tín hiệu an toàn của du kích địa phương, lệnh vượt đường báo hiệu. Chúng tôi nhanh chóng băng qua đường 1, và cấp tốc tiến thẳng về làng phía trước, qua cánh đồng ruộng nước ngang cổ chân rồi tới cánh đồng khô và chúng tôi vào một làng nhỏ nghỉ lại đó, phân tán vài ba người một nhà. Một tối hành quân ở hậu địch nhớ đời. Kinh nghiệm cho thấy địch rất hay tập chung canh gác ở giáp ranh, mà lơ là trong lòng, nên qua được vỏ cứng của địch là dễ thở rồi. Vì vậy cái đuôi vợ, mẹ bộ đội cũng bỏ đoàn, mà nay họ đã hợp pháp đi lại trong này.
Tới nhà cơ sở du kích, chúng tôi rời rã chân tay, nằm lăn ra ổ rơm mà ngủ.
Chiều quãng bốn giờ chiều chúng tôi được gọi đi ăn cơm để chuẩn bị tối đi tiếp.
Tối nay đi đường làng, có lúc băng qua cánh đồng nhưng không phải lội ruộng như tối qua. Đêm khuya vắng vẻ dù đi qua làng mà không nghe một tiếng chó nào sủa, hỏi ra mới biết vùng này chó bị giết thịt hết để du kích dễ hoạt động. Đôi chân chúng tôi đi giày lâu da chân mỏng, nay đi chân không trên sỏi hay cành tre thì đau nhói. Hơn nữa qua làng lại sợ gai tre nên tốc độ đi không nhanh luôn bị cô liên lạc dục và phê bình.
Đi quá nửa đêm chúng tôi được nghỉ lại một làng Lý Nhân trên bờ sông Thái Bình, đây là một làng lớn dân đông, cán bộ địa phương đón chúng tôi phân tán về các gia đình cho ăn, ngủ, chờ tối sau là vượt sông sang đất Thái Bình.
Bảy giờ tối, bốn chúng tôi ra điểm hẹn để vượt sông chỉ gặp lại ba anh đoàn khác thôi. Hỏi cô giao liên mới biết vào đây có thể tự đi lẻ được nếu có giấy tờ hợp pháp, chỉ mấy anh mới vào, các em mới phải dẫn tới trạm quân khu.
Tất cả đã chuẩn bị sẵn phao bơi, và ai cũng biết bơi nên việc vượt sông không khó khăn gì. Chúng tôi cách nhau mỗi người 5, 10 bước miễn là còn thấy nhau lại âm thầm đi. Hôm nay cái chân đã quen dần và đi bờ ruộng nên đỡ đau. Không còn nghe tiếng súng và thấy pháo hiệu, chúng tôi đoán đã vào sâu hẳn trong lòng địch nên yên tâm hơn.
Cô giao liên bảo tôi, tối nay các anh tới Quỳnh Côi nơi trạm đón tiếp quân khu thì em hết tránh nhiệm, tôi hỏi cô ở lại hay lại ra? Cô nhìn tôi và cười, em là giao liên chỉ nghĩ một ngày giao nhận cán bộ và công văn thư từ rồi em lại ra ngay.
Tôi thầm nghĩ cô bé mười sáu tuổi mà ra vào vượt vòng vây địch hàng ngày thật đáng kính phục, càng tin vào sức mạnh của dân.
Vào trạm đón tiếp quân khu rồi mà chúng tôi chả thấy ai, gặp ai, cứ nằm chờ ở một nhà dân, gần tối ăn cơm xong chúng tôi được gặp anh Thân là đài trưởng lâu năm, nay là Trưởng ban vô tuyến điện quân khu, anh mặc bộ quần áo nâu đã bạc mầu, chân đi đất người mảnh khảnh, gặp nhau tay bắt mặt mừng, chào hỏi xong anh tâm sự: “ Nghe tin các anh mới đi học về bổ sung cho chúng tôi thật là quý, trong này quá thiếu người, mà phương tiện liên lạc chủ yếu là vô tuyến điện, tôi về báo cáo Tư lệnh rồi dẫn các anh về đơn vị. Mới vào cứ nghỉ ở trạm vài ngày tìm hiểu tình hình và dưỡng sức, mới chuẩn bị chiến dịch mà địch lồng lộn lên nó càn quét liên miên, rồi các cậu sẽ biết.”
Anh Thân ra về, mấy anh em tán ngẫu sẽ đi đâu về đâu, ở trực tiếp với dân mấy lính khu 4 dù cải trang gì, dân cũng biết chúng mình là lính ngoài tự do vào, nghĩ lại câu nói của anh cán bộ đã dặn: “các anh nói bằng tay là chính”, chúng tôi nói ít đi và bé lại, dân ta tinh lắm nghe thoáng qua chúng tôi bàn luận họ đã biết chúng tôi ở đâu về.
VƯỢT CÀN
Ở Quỳnh Côi (Thái Bình)
1952 chúng tôi vừa ở Trung Quốc về, nơi rèn luyện chính quy hiện đai. Mới về chưa rõ cuộc sống chiến trường. Nay lại vào địch hậu chiến đấu, nơi không có quy luật gì cố định. Ranh giới ta, địch không rõ ở lẫn lộn xen kẽ vào nhau. Ta, địch đều cải trang trà trộn vào nhau dò la tin tức, lực lượng của nhau. Ta cải trang, địch cũng cải trang, ra chợ chả rõ ai là ta, ai là địch, việc giữ mồm miệng rất cần với chúng tôi.
Đêm ngủ chưa tròn, nửa đêm có liên lạc ra gọi chúng tôi dậy ngay, lấy quân trang đồ đạc hành quân, chúng tôi vội vàng thu dọn chạy ra sân theo anh liên lạc chạy hút, không kịp chào chủ nhà, phải bám sát người liên lạc để biết đi đâu, chứ chúng tôi không biết nay đang ở làng nào, huyện nào, chỉ rõ là ở đất tỉnh Thái Bình thôi.
Qua hai lối rẽ chúng tôi tới một sân Đình rộng, Cán bộ bộ đội của khu bộ đã tập hợp đầy đủ ở đó rồi, tôi tới đứng vào cuối đoàn ban thông tin, chưa rõ biết mặt, tên ai cả còn bỡ ngỡ định thăm hỏi người cạnh thì tiếng hô “nghiêm” vang lên, tất cả đứng thẳng lắng nghe, tiếng báo cáo quân số vừa ngắt thì một ông cao to mặc bộ quần áo bà ba của lính địch hậu, vai mang tay nải vải đen đầu đội nón, tay cầm gậy đứng lên thềm Đình cao dõng dạc nói to: “ Bộ chỉ huy vừa nhận tin: địch dùng quân địa phương và các trung đoàn Cơ động bao vây cơ quan bộ chỉ huy ta, Bộ chỉ huy quyết định mở đường máu chọc vòng vây tập kết ở Nam Định, tất cả chuẩn bị để vượt sông”.
Ông gọi đại đội trưởng liên lạc đâu, một đồng chí mặc quần đùi áo nâu lưng thắt súng ngắn và mấy quả lựu đạn chạy ra trước hàng quân báo cáo: Báo cáo tư lệnh, bến đò đồng chí bảo chuẩn bị cho đoàn vượt sông nó gác chặt lắm, tôi chuẩn bị bến phía dưới cách gần cây số không ai gác.
Chưa dứt lời ông chỉ huy vung cái gậy lên quát to: Thế là vào bẫy rồi. Nó bỏ ngỏ đó nhưng phục kích ở cạnh. Mình vào là nó úp đó. Không tuân lệnh cách chức đại đội trưởng. Đại đội phó đâu? Có một thanh niên tay mang túi lưng thắt lựu đạn ra trước hàng, đồng chí đại đội phó cấp tốc điều quân bắt gọn lính gác bến đã chỉ định, chuẩn bị cho đơn vị mở đường máu qua Nam Định cấp tốc đi ngay.
Xong ông đi xuống hàng quân tới giữa hàng ông dơ gậy gạt nửa sau lùi 5 bước và gọi ông tham mưu trưởng ra giao lệnh.
“ Giờ không còn giờ thảo luận, rất gấp rồi, chúng ta cố bảo toàn lực lượng, không thể cùng đi một đường, đồng chí đưa nửa phía sau mở đường máu chạy sang Vĩnh Bảo, Kiến An, còn tôi đưa anh em sang Nam Định”.
Bộ tư lệnh khu 3 nay lại chia đôi chạy càn, tôi tới sau nên ở đoàn sang Kiến An. Trời tối như mực, không ai nói một câu, chỉ lầm lũi theo sát chân nhau đi để giữ liên lạc. Sau hai tiếng cấp tốc hành quân chúng tôi tới bờ sông không ai canh gác gì cả. Cứ thế chúng tôi bò qua sông êm ả. Địch đâu ngờ chúng tôi lại chui sâu hơn vào lòng địch nên nó bỏ ngỏ vòng vây phía đó.
Chạy càn nên tôi không rõ ba bạn cùng đi của tôi ở tổ nào nữa, tô

0 Comments|9 Views|View full article
Family stories:Bèo dạt - Tập 1: Đi tìm cái chữ
Posted by: viet anh hoang on June 3 2008 09:28


BÈO DẠT
Tập1- Đi tìm cái chữ

GHI LẠI DẤU ẤN MỘT THỜI CỦA TÔI
HOÀNG XUÂN GIÁP


Đọc cuốn “Mây Trôi” của Vũ Hùng tôi cảm thông, lúc xem người lại nghĩ tới ta, tuổi 75 rỗi rãi ghi lại bước thăng trầm của cuộc đời, vui tay chép lại cho con cháu biết thêm thế hệ qua.


Xuân Giáp Thân /2004



1 - QUÊ HƯƠNG XƯA VÀ NAY

Vào khoảng 1928, nơi tôi sinh ra ở xóm Mênh, làng Yên Phúc (nay là Đức Phúc, Yên Hồ) tổng Yên Hồ, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, một làng quê thuần nông, bùn lầy nước đọng, giao thông chỉ có đi bộ và thuyền, quan chức thì cáng và ngựa.
Hồi đó nhà cửa còn thưa thớt lắm, xóm tôi có vẻn vẹn vài chục hộ, vườn ông tôi rộng tới vài mẫu ta trồng chè, cam quýt, nhà nào cũng có vườn rộng trồng hoa quả, cứ Tết là cả xóm cùng nhau thuê thuyền chở ra chợ Vinh bán.
Bà nội tôi kể chuyện lại cụ về làm dâu xóm này còn hoang vu lắm, lợn rừng và con hoẵng còn nằm trong vườn, ai có sức thì phá hoang làm ruộng sản xuất, sức lao động lúc này cực quí giá, do vậy lời chúc nhau là đông con đầy cháu, quan niệm trọng nam hơn nữ cũng xuất phát từ kinh tế, cần sức lực để sản xuất. Bà nội sinh những mười tám lần mà nuôi được chỉ tám.
Cả huyện không có một bệnh viện chỉ có thầy lang vườn như ông nội tôi, đọc được sách là thầy đồ kiêm thầy thuốc Nam, thêm vài vị thuốc Bắc, bệnh nặng quá thì cúng bái tàn hương nước lã xin ở đền chùa về uống, cái thời sinh nhiều nuôi ít nghĩ lại mà thương kiếp phụ nữ xưa, các cụ ngày xưa nói là nỗi vượt cạn một mình, vốn liếng hiểu biết là mẹ bảo cho con, mà mẹ có biết gì mà bảo, chỉ dựa vào sinh lý tự nhiên, có gì xấu là do số phận để yên tâm.
Thiếu nhận thức khoa học tin vào thần thánh ma quỷ, nên Đền thờ xây rất to mà bệnh xá trường học không có, dân làng cúng rằm tháng Bảy rất to, làng tôi tế ở chợ, lễ phần lớn là cháo hoa, chuối, ổi v.v… Cúng lễ xong thầy lễ đem ra tung cho trẻ con cả làng tranh nhau nhặt, sao lại có lễ này, các cụ nói là cúng chúng sinh tức là các ma trẻ con, các cụ gọi là “ma ranh” vì không ai cúng giờ đói khát nó phá rối xóm làng.
Làng tôi xưa, dựa theo địa dư chia ra từng xóm, dân trong xóm thường là quan hệ họ tộc, xung quanh xóm thường có luỹ tre gai dầy đặc có tới một hai mét, bao chặt xóm, các hộ cách nhau bởi cây găng, cây duối, có tán lá hẹp thấp mục đích dành mặt đất và ánh sáng cho cây ăn quả. Xưa lũy tre dày là phương tiện chống trộm cướp giặc dã xâm nhập. Cứ sáu giờ tối các cửa tre sập đóng, người ngoài có dao phá cũng khó vào, vũ khí thời đó chỉ là cung và nỏ nấp kín và bắn ra là trộm cướp đều sợ.
Làng xưa các nhà toàn bộ bằng tre lợp rạ, lác đác có vài nhà dùng thêm cột gỗ, chỉ có nhà Cụ Tuần (tức Hoàng Xuân Phong) làm Thủ trưởng tỉnh Hà Tĩnh (Tuần Vũ) là có nhà gỗ lợp ngoài mà thôi.
Công cụ sản xuất lúc này từ cày, cuốc, cái hái, cái thuổng, gàu tát nước, cái nơm, cái đó, cái cần câu, cái thuyền tất cả bằng tre, chỉ con dao, lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi hái là bằng sắt.
Dụng cụ gia đình như giường, bàn ghế, tủ hòm, rổ rá, nong, nia, sàng, tăm, đũa, nón, áo tơi,… đều bằng tre và lá.
Thế kỷ thứ 19 rồi mà làng tôi mức sống vẫn còn thế đấy. Cuộc sống của ai tự lo, có rộng ra thì chỉ quan hệ họ hàng. Chính quyền và xã hội thời đó có ai để ý, có thấy đâu, họa hoằn mới thấy ông Lý trưởng đi thu thuế, còn cả năm dân đâu cần và biết chính quyền.
Chính quyền làng có ông Lý trưởng và các ông Hương giúp việc, ông Seo làng làm thông tin và tuần đinh là công an, chính quyền làm việc tại nhà riêng ông Lý, chỉ có Đình làng là nơi hội họp việc làng chung và tế lễ. Tuỳ kinh tế của làng mà có đình to hoặc nhỏ, làng giàu cột đình bằng gỗ lim người ôm không xuể, làng nghèo chỉ là nhà gỗ xoan ở lọt với nhà dân. Làng tôi thuộc loại trung bình ba gian lợp ngói, là nơi xét xử hội họp của chính quyền xã làng.
Thời phong trào Cách mạng lên cao, Pháp tổ chức thêm cấp Tổng, Chánh tổng chỉ lo việc trị an, tìm lục người làm Cách mạng, chống chính quyền mà thôi. Tổng tôi có 3 làng là Yên Phúc, Nội Diên và Nhân Thọ (nay là Đức Nhân).
Thường chánh tổng là người giàu có trong địa phương, đặc điểm ông Chánh thường đi ngựa, đội nón lông có chóp bạc, để râu cá trê, đi đâu có lính chạy theo hầu trông rất bệ vệ và oai phong, lấy hình thức để uy hiếp dân cầy.
Vùng quê tôi phong trào Cách mạng liên tục và cao trào nên vai trò Chánh tổng rất uy lực, là mối liên lạc chính của mật thám Pháp. Các vùng trọng điểm, quan trọng có chính quyền đóng gọi là Đồn. Người Pháp đứng đầu và lính khố xanh có trang bị súng trường, đội nón đi chân đất, Đồn chỉ làm nhiệm vụ mật thám, trị an, lùng bắt thuốc phiện, rượu lậu, gỗ lậu mà thôi.
Phía Bắc huyện tôi giáp huyện trên là ngã ba sông Lam. Có đồn lính canh ở phía Đông huyện giáp giới huyện Nghi Xuân có đồn Chợ Củi.
Sau Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Pháp còn đóng thêm một đồn ở giữa huyện là Đồn Lạc Thiên ngay làng của lãnh tụ Lê Ninh, nơi lãnh đạo phong trào Cách mạng ở Nghệ Tĩnh.
Một huyện chiều dài khoảng 15 km và có ba đồn bốt Pháp đóng để trị an nói lên phong trào Cách mạng chống Pháp ở quê tôi luôn nóng bỏng, liên tục.
Sau phong trào Cách mạng Xô Viết - Nghệ Tĩnh chính quyền cai trị còn đặt thêm một chức vụ cạnh chánh tổng gọi là bang tá chuyên theo dõi và diệt cách mạng. Xóm tôi có phong trào đấu tranh mạnh các chiến sĩ bị bắt hồi đó có: Cai Phau, Chắt Liệu, tiếp sau là Nguyễn Tiệp, Chắt Tiu Vị.
Xưa vua Trùng Quang (họ Trần, 1410) xưng vương và đóng quân ở quê tôi nên nay vẫn còn nhiều địa danh chứng minh như giăm Tù Và nơi thông tin báo hiệu, Mã Chúa (mộ vua chết ở đó), Dinh (nơi vua ngự), Cầu Ông Rèn (nơi rèn vũ khí), Bãi Vọt (nơi tập ngựa tiếng Nghệ Tĩnh nói phi là vọt, nay là vùng thị xã Hồng Lĩnh).
Các cụ xưa xem địa lý chọn hướng nhà là trọng, nay đứng trước cửa nhà thờ Cụ Tuần ở Yên Phúc nhìn về phía đông thẳng vào cửa chùa Thiên Tượng, là ngôi chùa ở tận đỉnh, to cao nhất dãy Hồng Lĩnh có 99 đỉnh núi, các đỉnh thấp bé hơn nằm phủ phục hai bên, phía bắc ra tới Bến Thuỷ, phía Nam vào gần thị xã Hà Tĩnh. Lớn lên đi nhiều nơi thấy lý các cụ đúng và có ý chọn vì đó là điểm ngắm phong cảnh Hồng Lĩnh đẹp hùng vĩ, dân làng đồn họ tôi chọn địa lý tốt nên phát.
Cụ Tổ họ Hoàng Xuân Phong nhà nghèo đi ở chăn trâu cho nhà họ Nguyễn ở Xóm Mênh này, vì thông minh, ngồi nghe con chủ học thì bé chăn trâu thuộc bài chứ con chủ không thuộc, vì muốn con có bạn học cùng con để gây hứng thú, nên ông chủ cho bé Phong học cùng con ông chủ, càng học trí càng thông, học đâu thông thuộc đó, nên ông đồ nói với ông chủ con ông thiên chất không có, học cũng không thành, còn bé chăn trâu thông minh trời phú, ông nuôi nó học sau được nhờ đó, nghe vậy ông chủ có ý nuôi chú bé chăn trâu ăn học và sau gả con gái cho mong được nhờ. Tới tuổi cập kê ông chủ mối lái gả con gái cho chú bé, thì cô gái không thuận ý vì lấy kẻ chăn trâu xấu hổ nên không thành, sau đó con trai ông chủ bệnh chết, con gái kiêu kỳ nên trai làng không ai dám lấy, cậu bé chăn trâu nay đã là ông Khoá cắp tráp về quê ở chợ Trổ (Đức Nhân) rồi lấy cô vợ họ Thái ở Lạc Thiện, nhà khá giả trọng chữ nghĩa học vấn, nên gả con gái và làm nhà cho ở trong vườn, cần cù ôn học đi thi hương, ông đậu đạt được làng trọng vọng không may cụ bà bệnh mất và cụ lại cô đơn.
Cô gái ông chủ ở Yên Phúc tới nay đã luống tuổi vẫn chưa chồng, cụ Tổ về thăm chủ cũ lúc này cụ cũng có khoa bảng nên chủ cụ rất quý trọng và cô gái nay cũng hết chê và nên duyên vợ chồng.
Nhà nghèo nên cụ định cư ở nhà vợ từ đó xóm Mênh thêm một dòng họ Hoàng Xuân nổi tiếng cả vùng về hiếu học. Tuy ba đời đã định cư ở xóm Mênh này mà chi họ Hoàng vẫn không được nhập làng mà vẫn gọi là dân ngụ cư (tạm trú) mọi thủ tục hành chính và sưu thuế phải nộp ở xã gốc là Đức Nhân (xưa là Nhân Thọ). Sau Cách mạng tháng 8 họ hàng mới được nhập chính thức làng Yên Phúc, tục lệ thời xưa là thế đó.
Xưa làng tôi có 3 xóm, xóm Đông, xóm Giữa và xóm Minh (xưa kiêng huý Vua Minh Mạng nên gọi chệch là Mênh). Địa lý làng tôi rất tốt với quan niệm xưa cận sông La, cạnh chân núi Hồng Lĩnh mùa lụt trâu, bò đều sơ tán lên núi an toàn, nằm trên đường quốc lộ liên tỉnh Nghệ An-Hà Tĩnh. Theo phong thổ xưa thì có núi bảo vệ sau lưng có sông trên bến dưới thuyền buôn bán sầm uất, sản xuất lúa nước thì cận sông là tối ưu, sông còn là phương tiện lưu thông chuyên chở duy nhất thời đó.
Phía Tây làng có chợ đò Hào nằm cạnh quốc lộ 8 phía Đông có chợ huyên Trung Lương một làng nghề rèn nổi tiếng thời xưa, nơi rèn vũ khí súng kíp cho phong trào Cần Vương - Hàm Nghi và Phan Đình Phùng.
Làng tôi ở vùng khí hậu khắc nghiệt, mùa hè thì gió Lào vượt Trường Sơn sang Việt nóng tới 40 độ đất khô nứt nẻ ruộng ao, còn gió Nam Lào xoáy tròn đát bụi lên cao hàng trăm mét, trẻ con chúng tôi gọi là “Ma cụt trốc” (đầu), trong nhà chỗ nào cũng đầy bụi. Tuy vậy là mùa vui nhất của học sinh và trẻ con cả ngày được ra sông bơi thoải mái, vì vậy trẻ con nam, nữ quê tôi từ 8 tuổi trở lên đều biết bơi cả, biết bơi có cái lợi, vì quê tôi lụt hàng năm rất đúng hẹn tư tháng 6 âm lịch đến tháng 8, nước tràn mênh mông xóm làng đồng ruộng kéo dài đến tận chân núi Hồng, nơi đàn gia súc sơ tán lên đó. Lụt cũng là thú vui của trẻ con vì được chặt chuối đóng bè chống đi khắp làng, đi câu, thả lưới, bẫy chim v.v... Xưa quan niệm lụt là quy luật của tạo hoá không ai oán giận gì mà chỉ tìm cách chống đỡ thôi. Ở vùng lụt to, xưa quê chỉ cầy cấy một vụ cấy vào mùa xuân gặt vào hè, còn mùa lụt vào hè nên không cấy được, mà ai có sức làm mầu khoai lạc hoặc đeo lúa nương ruộng khô lúc lúa lên cứng cây thì mùa lụt tới có nước lúa tự mọc và gặt vào tháng 10, năm nào lụt sớm to ngập bông mất trắng.
Tuy khắc nghiệt vậy, dân làng vẫn bám ruộng cấy cầy hết chống hạn tới chống lụt mong sao có đủ cái ăn đã mừng cuộc chống thiên nhiên khắc nghiệt tìm lẽ sống con người phải gắn bó gần gũi nhau hơn.
Năm 1934, con đê sông La được đắp từ châu Hồng Lĩnh lên tận Linh Cảm gồm 20km, một sự đổi đời cho quê tôi. Lúa gặt hai vụ ăn chắc, đường đê qua làng xe đạp, xe ôtô bắt đầu qua lại, nhà cửa như sáng thêm, con người xem ra văn minh và hồ hởi hơn.
Cuộc sống đang đà đi lên thì Cách mạng tháng 8 tới ngọn lửa vừa nhóm lên gặp cơn gió thổi, tình xóm làng càng gắn bó, đoàn thanh niên được toàn dân ủng hộ, thể hiện trong việc đắp đường, và nấu cháo cứu đói 1945.
Kháng chiến bùng nổ đa số thanh niên vào quân đội theo tiếng gọi cứu nước đánh ngoại xâm. Tiếng bom đạn nén tính hồ hởi của xóm làng xuống như rút về thế thủ, lắng chờ cuộc chiến một mất một còn.
Cuộc chiến kết thúc nhanh ở Điện Biên hiệp định Paris đã ký, dân ta đã giải phóng được nửa đất nước, nông dân vùng tự do Nghệ Tĩnh đã có ruộng cày, nhà to đã được chia nhỏ, nhà cao dược tháo dỡ bán, tuy thắng lợi trên chiến trường nhưng quê tôi nửa khóc nửa cười, tan tác, im lặng, khó nói nên lời sự đồng tâm đã biến dần trong im lặng.
Tiếng cười chưa trở lại thì tiếng bom Mỹ lại rít trên đầu dân làng, cuộc sống rút xuống hầm chữ A - cột nhà, cánh cửa, nhà gỗ được tháo dỡ làm hầm, đình chùa cũng tham gia chống Mỹ, tất cả đều làm hầm, học sinh xách đèn dầu hoả đi dăm ba cây số học đêm trong các lán tránh bom. Làng tôi nằm trong tuyến trắng sông Lam nên máy bay địch ngày đêm kiểm soát chúng thấy còn mái nhà nào còn chứa được hàng, cứu được chiến trường miền Nam, là nó ném bom sập hết không còn cái nhà nào, cả cái nhà bê tông của ông Trợ Hồng tuy cả hai tầng không còn cái cánh cửa nào, nó cũng đào lật cả móng, cả vùng vườn hơn mẫu đất mà nay là nghĩa địa hố bom nước ngập đầy, ai có ngờ đâu những năm bốn mươi, đây là vùng buôn bán sầm uất, xe thuyền ra vào tấp nập, xưởng rèn, xưởng ép dầu, che ép mía, xưởng chế tạo bơm thuỷ lợi, hàng hoá giao lưu thuận lợi, cung cấp cho các tỉnh bạn, không khí tấp nập ngày đêm.
Hoà bình trở lại, chỉnh đốn kinh tế tập thể hoá, xa xa ở tỉnh, vài xí nghiệp mọc lên thế là các làng nghề dọc con đê như rèn ở Trung Lương, dệt ở quê tôi (Yên Hồ), mật đường chợ Trổ, bột miến ở Bùi Xá, ép dầu ở Nghĩa Yên, dệt lụa ở chợ Hạ, tất cả đều tiêu tan mất hết, cả vùng còn trơ nghề thuần nông.
Tiếng súng đã ngừng 30 năm mà quê tôi vẫn nheo nhóc với con trâu, cái cầy chìa vôi, nhà mới dựng lại bằng tre và ít gỗ vườn, có khác là không còn lợp rạ mà là ngói đất nung hoặc xi măng. Mong sao quê nhà tiến tới cảnh xưa.
Gặp vài bạn già về thăm quê ra tôi thường thăm hỏi đời sống dân quê ta, nhiều bạn vừa đùa vừa ái ngại trả lời, dân quê ta đã giải phóng được Trí, Phủ, Địa thôi, còn công nông vất vả quá.


2 - BÀ NỘI


Con gái một Thám hoa ở huyện trên (Hương Sơn) về làm dâu út cụ Tuần Hoàng (tuần vũ Hoàng Xuân Phong) vợ ông Tú Ức, ông dòng dõi nhà quan tuy đậu tú tài mà không tham gia chính sự chỉ làm vườn bốc thuốc dậy chữ Hán, thời cuộc thay đổi, biến cố xã hội liên tục xẩy ra ở quê tôi, là cái nôi nuôi Cần Vương của vua Hàm Nghi, rồi phong trào chống Pháp của cụ Phan Đình Phùng tiếp tới Xô Viết-Nghệ Tĩnh, xóm làng xơ xác gia đình ông Tú, hương hoả có vài mẫu ruộng và mảnh vườn cày xới tần tảo cầy xới nuôi nhau vẫn không thoát cái đói, trời phú cho cái giống tốt nái, hai cụ sinh 18 lần mà chỉ nuôi 8 với kinh tế thuần nông quê tôi đói là đúng.
Trước hoàn cảnh đó bà nội tôi quyết định rời quê tìm miền đất hứa, đi tìm cái chữ cho con, ông tôi nho nhã ít quyết đoán cuộc sống phần lớn theo sự quyết đoán của bà.
Thuận tình trong ngoài các cụ bán hết ruộng, để lại quê hai cô dâu trẻ giữ nếp nhà tranh thờ tổ tiên.
Từ đó, 1922 trên chiếc thuyền 11 con người gia đình cụ Tú xa quê, ra Vinh tìm lẽ sống.
Gánh nặng đặt lên vai bà mẹ với 8 con còn tuổi học, bà lăn lộn chợ sớm chợ hôm mong sao đủ sống cho con đi học cái chữ.
Anh cả và anh hai đã học chữ Hán ở quê nay cùng các em học tây học, tất cả đều mới, với một gia đình từ quê ra tỉnh.
Định hướng bà có sẵn là đi tìm cái chữ cho con, bà bỏ chạy chợ, chuyển sang nấu cơm trọ cho học sinh trường quốc họcVinh, sống trong môi trường văn hoá được mọi người yêu mến và giúp đỡ, cụ phấn khởi và ổn đinh ở lại, mục đích là các con được học.
Dần dà cuộc sống ổn định, ông cả thi ra làm thư ký tài chính, ông hai thi ra đi dậy học ở huyện Chương Dương-Nghệ An, dân quê vẫn gọi ông Trợ Hồng. Hai anh ra đi làm, ba em là học sinh giỏi trường quốc họcVinh, hai cụ rất phấn khởi vì đã chọn đúng hướng đi, trong cái vui chung của gia đình ba em Hãn, Mẫn, Hà phấn đấu học giỏi nổi tiếng cả trường, việc đó làm ông Hiệu trưởng người Pháp chú ý tới, cho bà đặc ân thầu nấu cơm cho học sinh nội trú quốc học Vinh.
Ở đây cụ nuôi được con học lại giúp được học sinh nghèo Nghệ Tĩnh, lúc khó khăn vì gia đình chưa có tiền gửi ra cho, hơn nữa bà nội là người chí khí, lúc ru chúng tôi ngủ bà hay ru các bài ca cách mạng, kể cho nghe chuyện Cần Vương của vua Hàm Nghi, Phan Đình Phùng đánh Pháp, cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, cụ Giải Huân vv... Cụ say xưa đọc và kể cho cháu nghe cụ thuộc lòng như người trong truyện. Bà tôi có trí nhớ tuyệt vời, cụ thuộc lòng các bài sử ca nêu gương các nhà yêu nước, các bài gia huấn ca nhằm giáo đạo làm con của đạo Khổng, dài hàng mấy trăm câu bà đọc làu làu không ngắc ngứ chỗ nào.
Với ý chí của bà sẵn có nên các năm nấu cơm ở quốc học Vinh, có phong trào Tân-Việt hoạt động mạnh, mà phần lớn là thanh niên học sinh sớm giác ngộ, chi bộ nhà trường biết cụ là người có chí thường mượn buồng ngủ của ông bà để họp kín mật thám ít chú ý tới, vì có tây túc trực trong trường, các cụ biết vẫn lờ không nói gì.
Tới 1928, chú Hãn đậu Thành Chung được học bổng ra học trường Buởi ở Hà Nội. Bà rời Vinh ra Hà Nội với gánh nước mắm Vạn Phần (Nghệ An) bán ở chợ Trần Quý Cáp ga sau ở Hà Nội bây giờ để nuôi các con học trường Bưởi, với tâm niệm tạo điều kiện tốt nhất cho con học, ba chú liền nhau thường học cùng trường, cùng học giỏi, cùng có học bổng nên thời kinh tế khó khăn thế mà với gánh nước mắm ông bà nuôi đủ các con đi học.
Gia đình bà nội ở xóm sau ga Hà Nội. Xưa đây là bãi rác, xóm liều của dân nghèo tha phương, đèn dầu nước gánh cuộc sống chui rúc nghèo khổ, nhưng tràn trề niềm tin và tình cảm, bà nội còn kể: Tối về không có chỗ ngồi học chú Mẫn tính ương và nóng, anh em hay cãi nhau, để đỡ đi xa, về vẫn không có chỗ ngồi học chú Mẫn xin ông bà vào cư trú trong một Chùa gần trường, xin ăn chay cùng sư và tiểu, được học ở nhà khách, lương học bổng tháng lĩnh 3 đồng chú chỉ ăn tiêu 2 đồng còn 1 đồng đưa về giúp gia đình nuôi em, bà kể tôi nghe mà mắt rớm lệ làm tôi cũng trầm ngâm suy nghĩ. Cuộc sống của ông bà nội tôi ở Thăng Long hoa lệ là như vậy đấy.
Sự hi sinh và quyết tâm của bà thôi thúc các chú chuyên tâm học tập. Các chú không phụ lòng bà, chú Hán đậu tú tài xuất sắc được học bổng đi Pháp học, tiếp đến chú Mẫn cũng đậu tú tài được học bổng đi Pháp học y, tiếp đến chú Hà đậu tú tài được học bổng học đại học Dược tại Hà Nội, lúc này đã có trường đại học tại Hà Nội.
Tiễn các con xuất ngoại đi học, hai cụ lại lui về quê, vui thú điền viên với hai bà dâu và đàn cháu ở xóm Mênh Yên Hồ.
Ra chỗ thị thành bà nội giao lưu rộng với lớp tri thức quan chức có con đi học, thường lui tới gửi gắm thăm con, ai cũng khen cụ lịch thiệp xã giao các con cụ học giỏi nổi tiếng càng tăng nhiều lời khen về bà.
Về quê cụ lại lo lập nhà vườn cho các con dù không một ai yêu cầu, đây là phong tục nếp sống thời xưa, con lớn là bố mẹ lo nhà vườn và hỏi vợ cho con, ông bà tôi cũng vậy làm vườn sẵn cho mỗi chú một cái, ông mối bà mối lui tới thăm hỏi luôn, trong vùng nhiều gia đình đánh tiếng muốn con gái về làm dâu hai cụ, con còn đi học cả, cụ chưa vội đồng ý nơi nào, có tin đặc biệt cụ Hiệp Niêm (Nguyễn Khắc Niêm) người Hương Sơn làm quan trong triều đình Huế có cô con gái tên là Vàng nết na có học muốn cho làm con dâu hai cụ. Xưa bề trên chiếu cố như vậy là hiếm, gây áp lực cho ông bà nội. Xưa tục hỏi vợ là quyền cha mẹ, ở cái thế con đi du học, theo học bổng các quan, xét cấp, các cụ lo ảnh hưởng đường học các con nên nể lòng xin hỏi cô Vàng cho chú Hãn, dạm hỏi là việc các cụ ở quê con ở xa đâu biết.
Tiếp đó cụ Hiệp Cần làm quan tại Huế ý mối lái gả cô Cúc con gái cụ cho chú Hà, nể quá ông bà nội lại trầu cau đi hỏi cô Cúc cho chú Hà, cô Cúc là người tiến bộ học đại học Y ở Hà Nội, chú Hà lúc đó học đại học Dược ở Hà Nội, rất thuận lợi tuy vậy việc hỏi vợ là của cha mẹ chứ cô chú có biết gì đâu, chưa hề tiếp xúc giao lưu.
Cái trí các chú là học thành tài về giúp đất nước nên việc vợ con chưa nghĩ tới. Năm 1930 chú Hãn còn học dài hạn ở Pháp nên viết thư xin lỗi cụ Hiệp Niêm vì học còn dài con gái có thì, cô Vàng có ai dặm hỏi xin cụ cho phép, cụ Niêm là người hiểu thế sự mới thanh niên Tây học, nên cụ đồng ý và cô Vàng được kết duyên với G.S Lê Khánh Đồng người cùng quê. Ngày cưới hai người, chú Hãn gửi bài thơ mừng cưới:
Vàng đã vì cha chót nhận lời
Ngàn trùng mang tiếng bạc vì ai
Sắt cầm duyên mới mừng tươi thắm
Gang tất lòng xưa luống lữ hoài
Chớ trách vàng thau hay kẹm kê
Vì thương son phấn dễ tàn phai
Cũng đồng chân quận trong thân thích
Chớ để chàng Tiêu đứng cửa ngoài.
(Mỗi câu có tên một khoáng sản hay kim loại vì vợ là Vàng chồng là Đồng)
Cô Vàng họa lại bài thơ đó giấu trong lòng mãi, bài thơ mãi 1993 Nguyễn Khắc Phi em cô Vàng sang thăm ông Hãn và biết có bài thơ trên hỏi chị có nhận được không? Bà Vàng liền đọc lại bài thơ hoạ lại từ 1930 tới nay vẫn chưa gửi.
Năm 1993 chú em chép lại gửi chú Hãn bài thơ sau:


Ngây thơ chỉ biết việc vâng lời
Dang dở duyên tình dám trách ai
Bà nguyệt se tơ rắc rối thế
Để người trong cuộc vấn vương hoài
Mừng nay sống cạnh chồng quân tử
Muôn nỗi ưu phiền sẽ nhạt phai
Hai họ Hoàng Lê cùng quyền thuộc
Vốn đã khăng khít đứng chi ngoài.

(Bài hoạ 60 năm sau mới tới tay chú Hãn)
Mấy năm sau chú Hà tốt nghiệp Dược sĩ sang NôngPênh (Cam-Pu-Chia) làm việc, xa xôi cách trở, phong trào tự do luyến ái tác động mạnh vào giới học sinh, sinh viên. Trước lúc đi xa chú Hà lại vì Hoàn cảch mà xin chia tay với cô Cúc.
Hận về duyên số cô Cúc xin đi Pháp học nha khoa sau lấy Bửu Điềm em Bửu Hội nhà Vật lý Việt Nam nổi tiếng ở Pháp (tức nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị).
Qua hai việc không thành trên ông bà không can thiệp việc cuới xin của các con, các cụ ý thức được sớm trào lưu mới của thanh niên.
Ông bà nội về quê thì bố mẹ tôi xin ra ở riêng, cách nhà ông bà không xa, chưa tới tuổi đi học nên sáng nào tôi cũng dắt em Thọ vào xin chè tuơi của bà, mới ra ở riêng nên chưa trồng chè, sáng nào bà cũng cắt sẵn bó chè và quả chuối, quả quýt gì đó cho anh em tôi, anh em tôi chưa vào bà chưa đi đâu, có hôm chậm bà cứ ngóng ra cổng trông chờ. Lúc này bà rất đôn hậu và tình cảm, tôi linh cảm và nghĩ bà chờ em Thọ để bế vì lúc đó em mới 3, 4 tuổi bụ bẫm và xinh, lại là cháu gái đầu tiên của ông bà, sau một loạt năm cháu trai.
Những năm cuối thập kỷ 30 này là giai đoạn bà nội hạnh phúc nhất, con cái trưởng thành, yêu thương đùm bọc nhau, tuy vẫn ba gian nhà tranh, ngày hai bữa cơm rau đạm bạc, ra đường ai cũng kính nể, về nhà trong ấm ngoài êm, biểu lộ trên nét mặt bà đã tươi, phúc hậu nay lại rạng rỡ bội phần.
Đầu những năm 40 các chú gửi tiền về, ông bà xây nhà mua ruộng, từ ông Tú rách, nay cụ Tú đã áo the quần lụa xính xang xóm làng ai qua cổng cũng nhìn vào tấm tắc khen hai cụ hạnh phúc.
Chưa bao lâu Cách mạng tháng 8 thành công, cụ Tú được mời vào tỉnh tham gia Hội đồng nhân dân, Hội liên việt tỉnh ông thận trọng, chậm chạp, ít nói nên cụ đi họp rồi lại về làm vườn không tham gia chính trị, có lẽ đời cụ đã từng trải qua nhiều biến cố xã hội, lúc nào cũng thấy ông bình thản, không vui, không buồn trái hẳn với bà nội thể hiện nội tâm ra mặt.
Hoà bình mới im tiếng súng thì tiếng súng cải cách ruộng đất vang lên, nông thôn nổi sóng, hết tình làng nghĩa xóm, có khi cả ruột thịt nữa, ra đường tránh mặt nhìn nhau, lúc sục sôi lúc trầm mặc suy tư, người lo số phận tai hoạ, người lo địa vị; quả thực, xóm làng im tiếng hô khẩu hiệu, tiếng súng thì lại ầm ĩ, lác đác từng nhà dỡ nhà, tháo cửa, cậy gạch đi bán, xóm còn ít nhà tránh thoát bom đạn Pháp nay được nông dân triệt hạ hết, thế là mọi người như nhau cả, hết nhà cao cửa rộng, luỹ tre trăm năm đồn luỹ của làng cũng chặt chia hết, về nhìn lại xóm đâu còn luỹ tre, cây đa, mái chùa, mà giống như cảnh xóm đi khai hoang mới dựng cơ nghiệp ở bãi hoang. Tối tới cũng vắng tiếng chó, sáng dậy cũng vắng tiếng gà, tất cả như im lặng chờ đợi.
Giông bão rồi cũng qua, dân số làng âm thầm lặng lẽ bớt dần, họ sợ quá khứ và đi tìm tương lai, có cái chữ và cái chí, họ rủ nhau đi tìm đất hứa, còn lại ở xóm là hạt lúa củ khoai.
May mắn, hồng phúc tổ tiên, ông bà nội được giấy mời ra Thủ đô trước ngày giông tố tới làng, nếu không ...
Lần xa quê thứ nhất, nét mặt bà nội lộ nét rắn rỏi quyết đoán, bán ruộng vườn để tìm cái chữ cho con vẫn để lại mảnh vườn hương hoả và túp nhà tranh vẫn mong ngày trở lại dù rất mong manh, vẫn nuôi hy vọng.
Lần xa quê thứ hai này ngoài chủ động mà theo yêu cầu của trên tiên đoán có sự bất thường chưa rõ nguyên nhân, ông tôi vẫn trầm ngâm yên lặng, chỉ ít ra vườn thôi, bà nội rõ nét lo lắng bồn chồn trầm lặng hẳn, nét phúc hậu tươi tắn biến đâu mất trước bước đường vô định, không hẹn ngày về.
Ra Hà Nội! Đâu phải nơi hai cụ mong ước.
Lúc này Hà nội mới tiếp quản, lộn xộn, tang tóc rác bẩn đầy đường, đâu còn hào hoa thanh lịch, đâu cũng lộ nét lo âu, to nhỏ bẳn tính.
Ông bà nội ra ở với O Cúc trong một biệt thự có vườn rộng ở phố bà Huyện Thanh Quan gần quảng trường Ba Đình, nay Hà Nội nép mình chờ đợi, lác đác vài chiếc xe ô tô, lưa thưa dăm cái xe đạp, cái ồn ào tấp nập buôn bán ở chợ Đồng Xuân cũng không còn, cái xóm bà nội ở càng tĩnh mịch, có ngày suốt sáng không một người qua cổng, dân xóm này phần đông đã di tản vào Nam.
Tôi ở bộ đội địch hậu Hải Kiền là khu vực tiếp quân sau 300 ngày, được tin ông bà và em Khoá đã ra Hà Nội, tôi xin phép đơn vị lên thăm hỏi tin tức gia đình, đã hơn 5 năm vào quân đội không một tin gia đình, sốt ruột lắm vì tôi đã được học và dự cải cách thổ địa ở Trung Quốc, vì quê tôi đội đã về ý nghĩa gia đình khó lòng vượt nạn, vì tin phong phanh còn ác liệt hơn ở Trung Quốc.
Với bộ quân phục mới tôi lần hồi mãi mới tới phố bà tôi ở, vào nhà tôi thấy ông tôi già hẳn đi, cụ đã ít nói, nay thì âm thầm không muốn nói, tôi chào thì ông tôi rạng sáng đôi mắt trả lời: Cháu về mạnh khoẻ à! Tôi vâng và lại cầm tay ông hỏi thăm sức khoẻ và tin bố mẹ các em ... Mắt ông sập xuống, dơm dớm hàng lệ như nghẹn lời ông không trả lời câu hỏi và bảo tôi xuống chào bà dưới bếp.
Bất chợt gặp tôi, bà oà lên khòc, chạy ôm lấy tôi nói: Cháu về mạnh khoẻ hè! Rồi nghẹn lời bà nói: Bác và cậu con bị bắt giam chưa biết ra sao? Khoá đã ra đây với bà.
Tôi ngẹn lời, đứng im một lúc không thể trực diện lâu với bà, chỉ hỏi qua loa và xin gặp em Khoá ở sau vườn.
Ra vườn tôi gặp em Khoá ở quê trốn theo anh Trạch ra cất hàng.
Dáng hình mảnh mai, hơi gầy và cái bụng ỏng to tướng đầy giun, tóc lút tai, tương phản với bộ quần áo trắng bạc, rộng thùng thình, bà lấy đâu cho em mặc. Anh em gặp nhau mà ai cũng lạ, lúc tôi đi hoạt động em còn rất bé, gần mười năm anh em gặp nhau, tôi chỉ đoán, vì không thể có ai khác, chạy ôm lấy em mà chỉ biết khóc mà không nói lên lời.
Tới tối O Cúc đi làm về, rất lâu cô cháu không gặp nhau vừa mừng vừa tủi, O cháu tỉ tê kể chuyện nhà chuyện đời, O cũng rất hồi hộp lo lắng, chẳng kém gì đâu.
Tôi được học chính sách tiếp quân và phân biệt bạn thù, tôi suy nghĩ nhiều, về phép vài ngày mà không tối nào ngủ được. Tôi mạnh dạn xin O Cúc đưa em Khoá xuống đơn vị ở Hải Dương đi học, qua trình bày và tranh luận với O Cúc là em Khoá thoát khỏi nạn cải cách ruộng đất ra đây nếu gặp nạn cải tạo tư sản nữa thì quá bất hạnh, tuy cháu chưa có lương, nhưng phụ cấp cũng đủ nuôi em người ta sống mình sống, tuy có thiếu vật chất nhưng thoát khổ tinh thần, nghe phải nên O đồng ý và phân tích cho ông bà hiểu để đồng tình cho tôi đem em xuống Hải Dương học.
Một năm sau O Cúc được công nhận là gia đình có công với Cách mạng vì nuôi cán bộ ở nội thành và được vào hợp tác xã sách báo quận Hoàn Kiếm.
Tình hình Hà Nội đã vào nếp dần, chợ búa đã họp đông nếp sống thành phố hiện dần, hè tới hai anh em kéo về Hà Nội thăm ông bà và O. Lần này không khí nhà O thay đổi nhiều, không ở biệt thự (12 Bà Huyện Thanh Quan).
Xuống ở 36 Quang Trung, nơi Bộ Ngoại Giao đổi lấy biệt thự cho sứ quán Ba Lan ở.
Lần này thần sắc ông tươi sáng hơn, hỏi han tôi nhiều hơn và ông có một yêu cầu là để em Khoá học ở Hà Nội cho ông đỡ buồn, ngày đêm có cháu bé bi bô với ông bớt sầu muộn, tôi thấm nỗi buồn của ông, nên để Khoá lại học ở Hà Nội.
Mưa lâu rồi cũng tạnh, đội sửa sai về làng, Mẹ và các em được ra Hà Nội nhờ ông bà và O Cúc cưu mang sinh sống đi làm và đi học.
Tuổi trẻ luôn nhìn về tương lai, cái đã qua cho qua, việc làm và sức khoẻ của con cháu làm vui lòng ông bà nội, con cháu về quây quần thăm hỏi ông bà thật vui.
Sau cơn mưa trời lại sáng, bà nội đã lấy lại nét vui vẻ, đôn hậu xưa, bà tính với tôi đã có 46 cháu nội, ngoại, dâu, rể, mà 41 cháu đã qua bậc đại học, đạt ý bà đi tìm cái chữ cho con cháu.
Dù bèo dạt, mây trôi, dòng đời trầm bổng, chí đã quyết hướng đã rõ, tay lái bà nội đã giúp con cháu tới bến Vinh Quang.

3 - VÀO ĐỜI

Xóm Mênh (minh tránh huý Vua) thuộc làng Yên Hồ nay là Đức Phúc thuộc loại nghèo nhất huyện tôi lớn lên ở đó, nơi không trường, không bệnh xá, mới ra khỏi nhà là lội bùn sâu quá mắt cá có nơi tới gối, tới tối cả xóm không thắp đèn, mà thắp để làm gì? Vài nhà khá giả dùng đèn dầu lạc đựng đầy cái đĩa có vài cái bấc bằng ruột cỏ, xôm xốp như bông thắp lên toả sáng vài mét phải treo chỗ kín gió không thì tắt ngay. Đèn chỉ để dùng thấy nhau và đi không húc đầu vào cột nhà, mà nhà gỗ xưa thì đầy cột, chỉ cách nhau vài mét, tay người lớn với cao đã tới xà nhà, đèn được thắp những ngày hết gạo sáng không có cái ăn, nên xay giã về đêm tranh thủ sáng mai còn ra đồng.
Đến tuổi đi học, cậu tôi, xưa anh em tôi gọi bố là Cậu, Mẹ là mự tới nay tôi vẫn không rõ tại sao, mời anh giáo Thụ mới qua lớp năm xưa, tức lớp 1 ngày nay, tuy vậy anh giáo đã 16, 17 tuổi rồi mới chỉ đọc thông viết thạo, làm toán cộng và trừ thôi, chưa thuộc cửu chương và làm nhân chia. Là ông giáo đầu đời nên tôi nhớ rất sâu, tỉ mỉ, cậu và ông giáo ra bờ sông chặt mấy cành cây có trạc và mấy cây tre, vác về nhà anh nuôi Yên người thợ cầy của ông bà, còn gian nhà tranh để không, chỉ có che xung quanh chưa có cửa.
Hai người hì hục đào đất cắm mấy cái cọc, trên gác ống tre lên làm ghế, và một tấm ván lên làm bàn học, tôi anh Du và hai trẻ trong xóm có thầy Thụ nữa là lớp học hình thành. Xưa sao mà học khó thế, ba bốn tháng mà mới thuộc mặt chữ và ghép vần trắc: ví dụ: ác, ắc, ấc, ... cứ ngày nào cũng đọc như cuốc kêu hè, chỉ nhớ vài ngày, ham chơi lại quên ngay, có đứa học cả tháng không thuộc một trang giấy viết, học cả năm mới đánh vần, dịch từng chữ.
Thời đó đọc thông viết thạo là đã thoát chân lấm tay bùn, kiếm được bát cơm manh áo. So với trẻ bây giờ chỉ học với chị em bè bạn mà trẻ biết đọc trước tuổi đến trường, thật kỳ diệu.
Qua hè, thầy Thụ về chăm lo cho vợ đẻ, và vốn chữ thấy không còn bao nhiêu, mà anh em tôi cần học nhiều hơn thế, Điền anh cả đã được ông bà ngoại nuôi cho ăn học ở Vinh, còn anh em tôi lại đi chăn trâu.
Một hôm bố gọi tôi và bảo:
Con cần tiếp tục đi học, cậu đã về Trổ xin dì Thủ Bộ cho con ở học cùng anh Thuyên vì trên đó có lớp 5 mới mở, tôi rất ngạc nhiên chưa hiểu trường lớp là cái gì? Lớp 5 là c&aacu

0 Comments|3 Views|View full article
Family memories:Gia Phả Họ Hoàng Kẻ Trổ - Hoàng Xuân Giáp 2000
Posted by: viet anh hoang on June 3 2008 09:23

I. BỨC THƯ NGỎ

Họ Hoàng kẻ trổ, có lịch sử ghi chép tới nay đã hơn 630 năm; là giòng họ lớn nổi tiếng về hiếu học ở Nghệ Tĩnh. Cũng như nhiều giòng họ khác do biến cố xã hội, do chiến tranh, do thiên tai nên không giữ gìn nổi gia phả của giòng họ.

Nay con cháu muốn tìm về cội nguồn để phát triển truyền thống giòng họ là một điều rất khó khăn.

Đồng cảm với tâm tư con cháu và tỏ lòng tôn kính tổ tiên, giáo sư Hoàng Xuân Hãn, những năm cuối đời đã sưu tầm, hệ thống hóa, ghi lại gia phả họ Hoàng Kẻ Trổ gửi tặng con cháu (1992).

Với vốn nghiên cứu lịch sử, với trí nhớ siêu nhân, với một số tư liệu ít ỏi còn lại, cũng như sổ cúng của họ, gia phả các chi, ông đã tóm tắt hệ thống hóa cây giòng họ từ THỦY TỔ HOÀNG VIẾT NGHIÊU tới thế hệ thứ 18; và tóm tắt một số công đức của các cụ tổ. Như ông đã nói vì thiếu tư liệu, thiếu gia phả nhiều chi nên đưa vào cây giòng họ. Ta cần tìm bổ sung.

Dù thế nào đi nữa, chúng ta tin vào tính nghiêm túc và uyên bác của ông, lấy bản đó làm gốc để bổ sung hoàn chỉnh dần gia phả giòng họ. Là họ lớn cổ xưa, con cháu ở khắp các tỉnh trong nước và nhiều nước trên thế giới nên cần sự cộng tác của nhiều chi họ, nhiều người, qua nhiều thế hệ mới mong hoàn chỉnh được.

Nay mỗi người phải góp sức hệ thống hóa các thế hệ nối tiếp 19,20,21,22,23 để nối vào hồ sơ đồ số chỉ còn thiếu từ thế hệ 8,10,14 phần lớn là đã di cư đến địa phương khác nên càng khó khăn hơn,. Có người vẫn ở quê gốc năm nào cũng tới lễ tổ họ đầu xuân mà nay không lần nổi mình từ chi gốc nào trong sơ đồ
Với tấm lòng vì tổ tiên, vì giòng họ, tôi thay mặt cụ tổ Hoàng Xuân Phong ở Yên Phúc, xã Yên Hồ vận động con cháu góp sức viết tiếp cây giòng họ từ thế hệ 16, Cụ Hoàng Xuân Phong đến nay là thế hệ thứ 22.

Biết là còn thiếu sót, có cả sai lầm nữa, tôi vẫn cố gắng hết sức mình ghi lại và in ra để mong mọi người góp ý hoàn chỉnh.

Mong sao các chi trong họ dùng làm tài liệu nghiên cứu, cố công sưu tầm nguồn gốc và làm tiếp các thế hệ kế tiếp để hoàn chỉnh cây giòng họ theo cùng phương pháp, mỗi chi làm mỗi tờ riêng, sau này thế hệ 24,25,26 của chi nào xếp sau tờ chi đó để truy cứu.

Với tiến bộ khoa học hiện tại,nay việc in ấn không mấy khó khăn nên mong sao họ Hoàng chúng ta dù ở xứ sở nào, xa hay gần, cũng có một tập tóm tắt gia phả này để gìn giữ truyền thống hiếu học, trung thực, cần cù của giòng họ và đến lúc nào đó có điều kiện tìm về cội nguồn, xứ sở sẽ hành hương về thăm quê tổ.

Rất mong được sự đóng góp chung của mọi người.

Chúc thế kỉ mới văn minh, sức khỏe.

II. XUẤT XỨ

Họ Hoàng Kẻ Trổ có lịch sử, di tích nhà thờ, mồ mả ở xã Đức Nhân, huyện Đức Thọ Hà Tĩnh, Thời xưa,vùng này gọi là KẺ TRỔ, tên hành chính là BÌNH LỖ, thời Nguyễn đổi tên là Nhân Thọ, sau CM 1945 đổi tên là Đức Nhân, vì vậy G.s Hoàng Xuân Hãn đặt tên họ là “HỌ Hoàng Kẻ Trổ”. Theo gia phả và di tích còn lại thì thủy tổ là cụ Hoàng Viết Nghiêu, con trai cả của một gia đình có học từ Thanh Hóa di cư vào Kẻ Trổ vào khỏang năm 1370 cuối đời trần.Cụ đã đậu cử nhân và học Tú Lâm Cục để thi hội. Gia phả không ghi tên cha mẹ và địa chỉ quê cũ và lúc chết cũng dấu mộ chính thức mà chỉ ghi trong gia phả là mộ ở phía ĐÔng bắc 300m từ bát hương trong am thờ của hộ (nay là nơi xây mộ tưởng niệm). có thể mộ ở gần mép để cạnh chợ
Là một ông Cử sao lại về ấn dật làm ruộng ở một vùng quê hẻo lánh, dấu tên quê hương, dấu họ tên cha, dấu cả mộ mình.Có thể vì sống ở cuối đời Trần, xã hội suy tàn, triều đình tranh giành ngôi thứ, loạn lạc khắp nơi, Hồ Quý ly cướp ngôi vua, gia đình cụ bị truy nã nên phải trốn về Kẻ Trổ (…)

III. DI TÍCH

Theo gia phả tính từ Thủy tổ Hoàng Viết Nghiêu 1370 tới nay năm 2000, họ Hoàng Kẻ Trổ đã tồn tại và phát trỉển 630 năm được 22 thế hệ; con cháu đông đúc sinh sống ở quê tổ để gìn giứ nhà thổ tổ và mồ mả tổ tiên. Trải qua nhiều thế hệ, nhiều biến động xã hội, con cháu vẫn giữ truyền thống giòng họ, hiếu học, trung thực cần cù nên thế hệ nào cũng có người nổi danh khoa bảng.
- Về văn, Tiêu biểu là Hoàng Trừng đậu hoàng giáp năm 1499, chức đông các đại học sĩ là chức danh được trọng vọng nhất thời Lê. Lúc triều đình hỗn loạn,Lê Hiến Tôn chết, anh em tranh giành ngôi vua, ăn chơi dâm loạn, Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua, cụ xin về quê khai hóa quê hương nên mộ cụ vẫn còn ở quê, Sau khi mất, nhớ công đức cụ, dân làng tôn phong cụ là Thần Hoàng xã, có miếu thờ của làng nay vẫn còn, và sắc phong thần và Thánh của đời vua sau.

- Về Võ, tiêu biểu có cụ Tổ Hoàng Văn Phái, sức khỏe hơn người, tham gia chống giặc chiêm Thành, lập được nhiều công lớn, được phong tước quận công, còn mộ ở quê. Kế tiếp các thế hệ sau phát triển văn võ song toàn.

Nói về di tích ở xã đức nhân, vẫn còn nhà thờ tổ từ xưa để lại, một cổ từ xưa tới nay vẫn được tôn tạo, con cháu đông đúc ở quanh nhà thờ. Nhà thờ qua nhiều lần được tôn tạo bảo quản trên nền đất xưa, Vị trí nhà thờ theo thuyết địa lý nho giáo là nơi địa linh nhân kiệt, lưng dựa vào dòng sông Lam trước mặt là cánh đồng xanh tươi trù phú, quây quanh là núi Hồng Lĩnh quê hương cụ Nguyễn Du, núi mào gà-quê hương La Sơn Phu Tử, núi Linh Cảm quê hương cụ Phan ĐÌnh phùng, núi thiên mẫu là căn cứ địa của Lê Lợi và Núi Quyết nơi tung bay cờ đỏ búa liềm thời Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tất cả tạo thành bức tường thành thiên nhiên chứa đầy sự kiện hào khí anh hùng, luôn nhắc nhở ta;”ta phải làm gì?”

Trước cửa nhà thờ là hai cột nanh, trên có hai con Nghê, theo luật phong kiến, nhà thờ của cụ tổ phong Thần mới được xây cột nanh và đắp nghê chầu
Trong nhà thờ còn lưu giữ nhiều sắc phong thần, phong thánh cho tổ họ từ thời lê, thời Nguyễn Quang Trung đểlại, Trước bàn thờ có treo 6 đôi câu đối rất cổ. Nay viện khảo cổ dịch ra thấy 5 đôi có đối, còn hai chiếc lẻ không ghép đôi được, vậy đã mất hai chiếc. Theo các nhà khảo cổ thì chữ rất cổ này còn vài ba chữ chưa đọc được mà chỉ phán đoán theo nghĩa để dịch, việc đó nói lên nhà thờ đã rất xa xưa.

Hòa bình lập lại, con cháu bốn phương lại quây quần hội tụ, chung sức tu sửa nhà thờ, mộ tổ khang trang sạch sẽ, mong sao bước sang thế kỷ mới, phúc tổ phù hộ con cháu hội tụ đoàn kết, phát triển và hướng về quê tổ.
Ở quê, vẫn giữ lề thói xua, họ Hoàng lễ tổ và 15 tháng giêng, và rằm tháng 7 con cháu về lễ đông đúc.

IV. PHÁT TRIỂN

Tính từ thủy tổ Hoàng Viết Nghiêu, đến năm 2000, họ hoàng kẻ Trổ đã nối tiếp 23 thế hệ tính theo con cháu chi cụ tổ Hoàng Xuân Phong, vì nay chưa thống kê được một số chi khác.

Về số lượng, chỉ tính con cháu cụ tổ Hoàng xuân pHong thuộc thế hệ 16 (sinh 1823) tới nay là thế hệ thứ 22 có tổng số 642 con cháu có ghi tên vào sổ, còn một số ở rất xa chưa ghi được.

Theo sơ đồ giòng họ, thì còn nhiều chi trù phú và phát triển như vậy, ước tính có đến chục chi như vậy, nhưng nay chưa liên lạc thống kê được. Cụ thể chi Hoàng Văn Ngoại thế hệ thứ 8 di cư đến xóm 2 Diễn Mỹ, Diễn Châu, con cháu vào nhận họ năm 1998, báo cáo nay có 300hộ gia đình, có nhà thờ lớn ở đấy. chi Hoàng Trọng Trầm thế hệ 14 gia phả nói rất đông con cháu nay vẫn chưa có gia phả và thống kê, còn nhiều chi khác ở Quỳnh lưu, phố Thắng, Nghệ An, thế hệ thứ 10 có 3 cụ tổ, Hoàng Xuân Dương, Hoàng Dật, Hoàng Tường học giỏi có khoa báng làm quan ở Bắc, nay chưa có liên lạc.

Là giòng họ hiếu học, nhiều chữ ít tiền, nên con cháu thường phân tán làm ăn ở xa quê, do loạn lạc và thăng trầm của cuộc đời, nên lâu ngày con cháu mất liên lạc. Nay điều kiện hòa bình có nhiều thuận lợi, con cháu quan tâm tìm hiểu, tìm lại liên lạc thì quý vô cùng.

Vì chưa tập hợp được đầy đủ thông tin các chi họ, chưa tập trung được gia pảh còn phân tán nhiều nơi, GS Hoàng Xuân Hãn dựa vào sổ cúng tổ ở nhà thờ và một số tư liệu gia phả đã hệ thống hóa cây giòng họ để nay chúng ta thêm lá thêm cành, Ngày xưa, sổ cúng tổ ở nhà thờ họ, chỉ ghi người có khoa bảng chức sắc. vì thế, thống kê này còn thiếu nhiều, vì người khoa bảng sẽ ít hơn người không khoa bảng.

Dù sao với cái gốc này, trách nhiệm con cháu phải lo viết tiếp, qua một giai đoạn lịch sử quá dài, biến cố xã hội và chiến tranhlàm mất tư liệu và quan hệ. Nay để dễ lần đường về cội nguồn, tôi xin tóm tắt các thế hệ (xem sơ đồ cây giòng họ kèm theo)

Thế hệ 1: Thủy tổ Hoàng Viết Nghiêu đã nói trên.

Thế hệ 2: Thủy tổ Hoàng Viết Yên, tính khảng khái, khi nhà Minh xâm lược vào sát quê nhà tàn sát dân, ông đã chống lại và mắng thẳng vào mặt quân quan nhà Minh nên bị giặc đâm chết vào thời vua Trùng Quang. Ông chết còn trẻ, ông có một con trai.
Thế hệ 3: Thủy tổ Hoàng Trại Công, vì cha bị giặc giết chết, ông phải bỏ quê lên vùng núi Phát Trại làm ăn trốn giặc. Vì thế ông phải dấu tên thật mà số cúng ghi là Trại Công (ông là Trại) và bí danh của ông.

Ông là người tuấn kiệt, có tài đức, sổ cúng ghi rõ công đước của ông, “người xây dựng nến móng truyền thống cho giòng họ vang danh trong vùng, được xưng danh là “Cha Cả”.

Nhờ phúc ấm, ông có nhiều con trai, đều ham thích học dich kinh thi, kinh thư, chăm đường thi cử, nhiều người đâu đạt ra làm quan, tri huyện tri phủ phong trào hiếu học cho cả vùng.

Lúc con cái trưởng thành, có địa vị và có gia sản, ông lại trỏ về Bình lỗ quê hương sinh sống.

Gia phả ghi ông đông con trai, nhưng theo sổ cúng chỉ có hai người có thể các người kia chưa có khoa bảng nên không được ghi vào sổ cúng của họ. Do đó ta chỉ theo dõi được 2 buối là có thể bổ sung cho ta như sau:

(Ghi chú, con chi trưởng là Đông Các sau con số có chữ A. Chi thứ là chi Hầu quận ngay con số có chữ B).

A - CHI ĐÔNG CÁC

Thế hệ 4A Kỳ Giang là con cả
Thế hệ 5A Hoàng Trừng. Ông đậu Hoàng giáp, đứng đầu 24 tiến sĩ, khoa Cảnh Thống kỉ vị đời vua Lê Hiến Tông (1499) ông nổi tiếng văn hay chữ tổt, cầm đầu viện hàn lâm, được phong tước lê trạch Hầu chức đông các đai học sĩ. Thời đó ở nước ta trí thức trọng chức Đông Các nhất, nên chi này ở trong sổ cúng ghi là chi Đông các.

Ông là người trung thực, gặp thời loạn triều vua lê Hiến Tông chết, các con trụy lạc ăn chơi giết nhau cướp ngôi vua. Ông can ngăn không nổi nên quyền bính rơi vào tay họ Mạc. Lúc Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua, ông từ quan về quê Bình Lỗ, khai hoá nhân dâu địa phương. Ông có công đức lớn đối với nhân dân xã, nên lúc ông chết được dân làm phong cho “Thành Hoàng Làng” có miếu thờ riêng do xã được gọi là tế gọilà văn Miếu, nay vẫn còn bia bên cạnh Văn miếu, nay vẫn còn bia cạnh Văn Miếu đề ghi lại sự việc xây văn Miếu.

Mộ tiên tổ Hoàng Trừng vẫn còn ở nguyên táng sau 500 năm, năm 1999 đã được con cháu xây lại bằng đá granit.

Thế hệ 6A Hoàng Viết chương, sinh ra thời loạn, về quê sinh sống, không tham gia khoa bảng, vì con quan được huơng lộc, được ghi vào sổ cúng tổ họ, các thế hệ 7A, 8A, 9A có lẽ không cókhoa bảng nên không có tên trong sổ cúng nhà thờ họ.

Thế hệ 10A Hoàng Quang Minh. Vì có khoa bảng làm quan tri huyện tới đời thứ 10 mới ghi nối dõi chi Đông Các - Gia phả ghi Quang Minh không có con nên chi này tới đây không còn trong cây giòng họ.

Vậy có phải là chi này không còn hậu duệ? Vì sổ cúng tổ tiên chỉ ghi người có khoa bảng, có chức thì chưa chắc chi này tới thế hệ 10 đã hết, cần nghiên cứu tiếp.

CHI THỨ - TỤC GỌI LÀ “HẦU QUẬN”

Nếu theo cây gia phả thỉ con cháu họ Hoàng Kể Trổ tồn tại tới ngày nay thuộc chi này, tính từ thủy tổ chi này nối tiếp nhau 22 thế hệ.

Thế hệ 4B: Hoàng Hữu Duy con út của cụ Trại Công/Ông đậu đầu thi hương cử nhânm được bổ nhiệm làm tri huyện phủ Tư Nôgn tỉnh Thái Nguyên, triều Lê Nhân Tông (1442-1470).

Thế hệ 5B: Hoàng Cự châu là con út của Hữu Duy. Ông học đậu tam trường, được bổ nhiệm làm Chánh Tổng quản (vào cuối thế kỷ 15).

Thế hệ 6B: Hoàng Trại Tường đậu hương trường (tú tài) bổ chức Câu Kê (Coi việc thu thuế).

Được phong tước lê Trạch Hầu,

Thế hệ 7B: Hoàng văn Phái, võ tướng triều vua Lê Trang Tôn (1540) có công cứu nước diệt giặc nên được phong tước “Khuông Quận Công”, vì vậy chi hậu duệ này đặt tên là chi Hầu Quận (để phân biệt với chi trưởng Đông Các). Ông lập công lớn nên vua cấp đất bãi sông La thuộc Kẻ trổ làm lộc điền. Ông biếu lại dân làng làm ruộng công, xã chia đều cho đinh làng canh tác từ xưa đến 1954. Trước cách mạng, ruộng công vẫn còn dân làng gọi là phần ruộng “Lộc Điền Hầu Quận”. Ông có 4 người con trai, cháu chắt đông đúc kế tiếp liên tục đến nay. Từ đây họ Hoàng lại chia làm 4 chi:

A- CHI TRƯỞNG
Thế hệ 8A chưởng đạt, Quan Võ Chức tránh đội trưởng
Thế hệ 9 chưởng Hoa, Quan Võ Chức tránh đội trưởng
Thế hệ 11A Cương khắc
Thế hệ 12A Tất thức
Thế hệ 13A Hưng Yên
Thế hệ 14A Trực ngôn (Chân Ngôn)
Thế hệ 15A Hữu chuẩn, di cư lên Dương trai Hương sơn
Thế hệ 16A Viết Đào, ở Dương trai, Hương Sơn
Thế hệ 17A Việt ở Hương Sơn, sau không có liên hệ gì về các đời sau.

Vậy chi trưởng chi ghi được tới thế hệ 17, có thể không có con trai hoạc lập nhà thờ họ riêng hoặc loạn lạc mất lien lạc tới nay chưa rõ.

B - CHI THỨ 2:

Thế hệ 8B: Hoàng Thiên Phúc, quan võ Hàm Thượng Tướng đánh giặc lập công giữ nước được phong tước Mỹ lộc Hầu

Thế hệ 9B: Hoàng Hậu Đức, Ông văn võ song toàn, thi chỉ đậu tam trường rồi được làm quan giữ chức tổng binh thiên sự, có công giữ nước được phong tước “Hiển Linh Từ”. Ông có 4 con trai:

Thế hệ 10B1 con cả Hoàng nhâm xuyên Đậu tam trường (cử nhân) chức Huấn đạo, lộc ban hàm tướng Sĩ Lang, tước Trà Lĩnh Nam, Ông nghiên cứu về Thuốc, phù thủy và âm nhạc có 3 vợ và 6 con, cháu chắt đông đúc ỏ tại quê kẻ trổ làm ăn và phát triển đi nhiều địa phương, có gia phả riêng, phát triển nhất là chi di cư đến Yên Hồ

Thế hệ 10B2 Con thứ 2 Hoàng xuân Dương, đậu tam trường, cử nhân, giữ chức Tham nghị ỏ tỉnh Nam ĐỊnh rồi về phủ chúa giữ chức thư xã ở Bình Thiên, hàm hiển Cung Đại ph, tước Xuân Dương Nam, con cháu đông có gia phả riêng tới nay vẫn chưa tìm thấy gia phả này, mất liên lạc từ thế hệ 11 (1660) có tin tức xin báo ban đại diên họ


Thế hệ 10B 3 con thứ 3 Hoàng Viết Tương, tự Thủy Hạo, Đậu Tam trường Đậu Hoàng Từ được bổ nhiệm bằng làm “Thư tả ở hộ phiên trong phủ chúa, ban hàm Thượng – Bảo - Tự - Thiếu – khanh, tặng Triều liệt Đại phu, Thông chánh sứ”.

Ông có con là Lĩnh Thiện đậu tam trường, bổ làm quan tri huyện
Chi làm quan ở Bắc, nên sau không có ghi chép theo gia phả nữa mất liên lạc từ thế hệ 12 (1860) mong tìm hiểu thêm.

Thế hệ 10B4 Con thứ 4 Hoàng Viết dinh Đậu cử nhân, làm tri phủ ở Thanh Hóa ông có con là Hoàng Dật tự Dư Dụ, đậu tam trường nhiều lần mà không vượt kỳ 3 thi hội, ông đậu kỳ thi đặc biệt ở Hoàng Từ. Dù ông nổi tiếng ở Thăng Long về văn thơ , chữ đẹp vẫn không đậu đại khoa, Suy luận thấy rằng lúc này chúa Trịnh nắm quyền, khi chọn quan chức đại khoa có xu hướng về chính trị chứ khoong riêng văn chương, người thiện ý thờ Lê thì không lọt được kỳ thi đại khoa nên hai bác cháu thi mãi không đậu đại khoa.

Thế hệ 11B4 Hoàng Dật, đậu tam trường nhiều lần được bổ làm tri huyện Thanh Chương, sau ông từ chức về ở ẩn dật làm trại sinh sống ở núi thôn Gia Hanh xã Bạt trạc, (theo đại nam nhất thống chí, thì ở núi Canh Sơn, theo gia phả thì nói núi Chương Sơn) đến nay không rõ hậu duệ thế nào?

CHI THỨ 3

Thế hệ 8C Hoàng Chưởng Lâm, quan võ chức chánh Đội trưởng.


Thế hệ 9C Hoàng Viết Hoan, nho sinh, hàm Thiếu khanh, tước thọ Đường tử, có hai con trai.


Thế hệ 10C1 Hoàng Viết liem, Nho sinh làm quan Tri châu, không con trai

Thế hệ 10C2 Hoàng Viết Dũng, hiệu sinh
11C Hoàng Nguyên Tôn, là con Viết Dũng có hai con là
12c1 Hoàng lạc Thủy con trưởng
13c1 Hoàng viết Xiển
14c1 Hoàng viết chân
15c1 Hoàng Viết Hanh đội trưởng về làm lý trưởng ở làng
16c1 Hoàng Nhược thủy làm thông lại ở huyện Quỳnh lưu
17c1 không rõ tên có 2 con
18c1 (a) Hoàng Viết Thẩm
18c2(f) KHông rõ tên, di cư ra phố Thắng Vũ, nghệ an mấtliên lạc
12c(2) Hoàng Sinh sắc con thú nho sinh
13c(2) Hoàng Sùng Nghị, chức phó vệ úy tước hiền Tài hầu
14c(2) Hoàng Viết Xứng
15c(2) Hoàng Viết Ánh
16c (2) Hoàng Viết Tuấn, di cư ra phố ThắngVũ Nghệ An, làm trùm trưởng phố
17c(2) Hoàng Viết Lẫm sống vào khoảng 1900 mất liênlạc


CHI THỨ 4

Thế hệ 8D Hoàng văn Ngoại, là con trai thứ 5 của Hầu Quanạ không ghi chức tước học vị,là con quan nên được tập ấm là Hoàng Tín Đại phu, nên được ghi sổ cúng ở nhà thờ tổ, ông di cư ra thôn Thọ trai huyện ĐÔng thành, Nghệ Anh, Gia phả có ghi đông con cháu, làm ăn phồn thịnh, có gia phả riêng

Trước năm 1945 cụ Hoàng xuân Viên đã ra nhận họ và lễ nhà thờ.
Sau chiến tranh không có liên lạc tới 1998 con cháu đã cử ông Hoàng Ngọc Chương, và cháu vào Đức Nhân, (Kẻ Trổ) nhận họ và lễ nhà thờ, ông kể rằng trước CM chi này có tới 300 hộ ở Diễn mỹ Diễn Châu, nghệ An, làm thương nghiệp là chính, sau chiến tranh kinh tế khó khăn, nay cũng bình thường làm nghề nông.




1) Họ Hoàng Kẻ Trổ có truyền thống chung là hiếu học, trung thực, cần cù, thời nào cũng có người khoa bảng, xưa tiêu biểu nhất là Tiến sĩ Hoàng Trừng đậu Hoàng Giáp, chức Đông các đại học sĩ, tước Lệ Trạch Hầu, thứ đến Hoàng Tương, Hoàng Dật nổi tiếng văn hay chữ tốt, ở đất thăng long

Về võ có Hoàng Văn Phái lập nhiều công được phong tước Quận công, Hoàng Thiện Phúc chức Thượng Tướng ; các thế hệ đương đại, con cháu vẫn giữ được truyền thống giòng họ, tiêu biểu như danh nhân giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Gs Hoàng Xuân Nhị, nối tiếp tới nay con cháu là giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư bác sỹ rất đông, phần lớn làm nghề y, dạy học, nghiên cứu khoa học, vẫn lấy học vấn làm gốc.

2) Do có học, xưa và nay con cháu thường phải xa quê, đi khắp nơi lập nghiệp, do loạn lạc biến cố xã hội và thời gian quá dài nên con cháu mất liên lạc với quê tổ, một thiệt thòi lớn cho giòng họ, người tâm huyết với giòng tộc hãy lưu tâm, cố tìm, nối liên lạc với các chi mà gia phả đã ghi rõ địa chỉ

Cụ thể:

- Thế hệ 10 có chi Hoàng Xuân Dương chưa tìm được gia phả
- Thế hệ 11 có chi hoàng Lĩnh Thiện và Hoàng Dật, làm quan ở Bắc chưa có liên lạc.
. Hoàng Viết Túc di cư đi Trung Lương Can lộc Hà Tĩnh.
. Hoàng Viết Loan di cư đi Sơn Hòa, Lương sơn, Hà Tĩnh.
. Là thời trịnh mạc tranh quyền, nhà Lê suy tàn, cướp bóc khắp nơi, việc li tán mất liên lạc là lẽ dĩ nhiên.

Thế hệ 13 chi Hoàng Trọng Trầm đông con cháu mà nay thiếu tư liệu và liên lạc.

Thế hệ 15 Hoàng viết Uyển di cư ra Qùynh lưu Nghệ an, mất liên lạc.

Thế hệ 16 Hoàng Nhược Thủy di cư ra Qùynh lưu Nghệ an, mất liên lạc.

Thực tế hiện nay thời mở cửa, giao thông thuận tiện con cháu đi làm ăn nhiều tỉnh trong nước và cả nước ngoài, mong sao giữ được liên lạc với quê tổ, bằng cách ghi thư và gửi về ban đại diện ở quê, mong sao giữ mối quan hệ với con cháu.

3) Nay một số người vẫn về lễ tổ ở nhà thờ họ, gặp nhau vẫn xưng hô chú bác,anh em, theo bố mẹ bảo từ bé, chắc chắn là họ Hoàng, nhưng lúc xem vào cây giòng họ thì không còn biết mình ở chi nào, một thiệt thòi lớn, biết là khó khăn nhưng chúng ta cố gắng, căn cứ vào cách xưng hô thường ngày để ghép dần vào các chi cho phù hợp, từ đó làm tiếp các thế hệ sau, nay ta không làm thì sau con cháu càng khó lần tìm ra mối quan hệ.

4) Một ước mong con cháu phải biết giòng giống tổ tiên, để gìn giữ truyền thống của giòng họ, đó chính là nguồn năng lượng vô hình luôn giúp ta vượt khó khăn, gian khổ, là lá bùa ngăn ta không làm điều xấu – Tuổi trẻ bay xa vì cuộc sống, ít nghĩ về quá khứ, chúng tôi mong sao hoàn thành tập tóm tắt gia phả này, in cho mỗi người một bản tùy thân, dù đi đâu, ở đâu có ý nguyện tìm về cội nguồn, có đường liên lạc về gốc tổ.


Hà nội ngày 5 tháng 2 năm 2000.
Thay mặt ban đại diện,




Hoàng Xuân Giáp

Địa chỉ liên lạc
P8 B26Yên Lãng Đống Đa Hà nội
ĐT 8532590
0 Comments|525 Views|View full article
Visits
0000371
 
Loading...
Loading...